Chùa Đồng Thái bồn lần xả thân

Lương Vũ Đế Tiêu Diễn, tự là Thúc Đạt, người Nam Lan Lăng ( ngày nay là vùng Thường Châu, Giang Tô), là người đồng tộc với vị Vua lập ra nước Tề Nam Triều tên là Tề Cao Đế Tiêu Đạo Thành. Sau khi Tề Cao Đế Tiêu Đạo Thành mất, con trai là Tiều Tích lên ngôi xưng là Tề Vũ Đế, sau khi Tề Vũ Đế mất, Tề Loan lần lượt giết hại Uất Lâm Vương và Hải Lăng Vương, lên ngôi xưng là Minh Đế. Sau khi con trai của Minh Đế tên là Tiểu Bảo Quyển kế vị, ông ta đã tàn sát một cách tàn bạo họ hàng thân thuộc của Vua, rồi sai quân lính bất ngờ tập kích Tiêu Diễn, lúc bấy giờ là Ung Châu Thích Sử, trấn thủ Tương Dương. Tiêu Diễn cho quân đến đánh, rồi gia lệnh giết Tiêu Bảo Quyển, sau đó tự mình xưng là Hoàng Đế, đổi tên nước thành Lương, hiệu là Kiến Nguyên Thiên Giám, lúc bấy giờ là năm 502 sau Công nguyên.

Theo ghi chép, Tiêu Diễn là một con người đa tài, văn võ song toàn. Trước khi lên ngôi thay nhà Tề, ông ta đã từng cùng với một số văn nhân Nho sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ tụ tập ở ấp Tây mới được xây dựng của Tề Cảnh Lăng Vương Tiêu Tử Lương xây ở vùng núi Kê Lung. Ở đó cùng nhau làm thơ làm văn, cùng nhau bàn tán thời cuộc, nhóm của ông cũng có uy tín và ảnh hưởng đồng thời ông ta còn nhận thêm chức Tề Ninh Sóc tướng quân chấn thủ vùng Thọ Xuân; sau đó ông lại nhận thêm chức Quán Quân tướng quân, phụng lệnh nhà Vua dẫn quân đi đánh đạo quân của Bắc Nguỵ lúc bấy giờ xâm phạm lãnh thổ Nam Triều. Sau khi cuộc chiến đó kết thúc, ông lại nhân thêm chức Hựu Quân Tấn An Vương Tư Mã trấn thủ Hoài Lăng. 

Cuối cùng ông ta nhận thức Phó Quốc Tướng Quân Ung Châu Thích Sử, trấn thủ Tương Dương. Sau khi phế nhà Tề lập nên nhà Lương, về mặt văn hoá tư tưởng, Tiêu Diễn gia sức gây dựng và ủng hộ Nho Giáo và Phật giáo. Cũng giống như việc dựng lên nhà Tống và nhà Tề, Triều Lương sau khi được dựng lên đều có các tướng lĩnh đứng đầu các lực lượng quân sự cát cứ mỗi vùng. Sau khi có quân trong tay, họ lại dùng vũ lực để chống lại chính quyền Trung Ương từ đó mỗi người đều lập nên Vương triều của riêng mình. Trong tình hình như vậy, các Hoàng Đế phong kiến bị giết hại và bị phế truất rất nhiều, chỉ ở hai triều đại là Tề và Tống Nam triều có 16 vị Hoàng Đế, thì trong đó có hàng chục vị bị sát hại, bị phế truất đồng thời, nhà Đông Tấn dựng nước ở vùng Giang Nam, chỉ kéo dài được quãng hơn 100 năm, Nhà Tống Nam Triều chỉ có khoảng 60 năm, nhà Tề chỉ có 24 năm. Do có tình hình như vậy, ngay sau khi lên ngôi Hoàng Đế, Lương Vũ Đế lập tức cho chỉnh đốn lại nội bộ của tập đoàn thống trị, mượn giáo lý tam cương ngũ thường của Nho gia để duy trì trật tự thống trị, đồng thời ông cũng tôn trọng Phật giáo, lấy đó để lung lặc tăng lữ và những tín đồ Phật giáo, hướng những điều họ quan tâm lợi ích trước mắt vào kiếp sau.

Ngày 8-4 của năm Thiên Giám thứ ba ( năm 504 sau Công nguyên), Lương Vũ Đế hạ chiếu: ông ta từ bỏ Đạo giáo, quy y Phật. Trong chiếu thư đó, ông đã nói rõ:” Đệ tử Tiêu Diễn này luôn luôn mê hoặc một cách mù quáng, đam mê Lão Tử, suốt ngày ôm ấp, đã nhiễm tà đạo này; giờ đây tập thiện nhân quả, từ bỏ mê tín, hoang đường để quay trở lại trí giác, từ bỏ với Đạo giáo, quay trở lại nương nhờ vào chánh giác(Phật giáo). Đồng thời ta cũng rất muốn hoằng dương kinh Phật để cho tôn giáo chánh giác được lưu hành ở thiên hạ”. Từ lâu lắm rồi Lương Vũ Đế Tiêu Diễn đã tôn thờ và đi theo Đạo giáo, trước khi lên thay nhà Tề, ông đã từng nhiều lẫn tiếp xúc với tín đồ Phật giáo dưới quyền của Cảnh Lăng Vương Tiêu Tử Lương, do đó ông ta đã chịu ảnh hưởng của họ rất sâu sắc, từ đó mà ông dần dần quay trở lại tín phụng Phật giáo. Do đó không bao lâu sau khi ông ta lên ngôi Hoàng Đế, ông lập tức tuyên bố mình từ bỏ đạo giáo để quy y Phật. 

Sau khi hạ chiếu Lương Vũ Đế lập tức dẫn một đoàn gồm hơn 2 vạn tăng sĩ và cư sĩ thế tục, đến trước lầu chính trong điện Trọng vân làm luôn bài “ Xả Đạo Quy Y Phật Văn”, tự mình làm gương cho mọi người, đứng trước dân chúng phát nguyện từ nay tín phụng Phật giáo, đồng thời yêu cầu Vương công quý tộc và bình dân trăm họ đều phải thờ Phật. trong bài văn đó ông nói rõ “ Công khanh bách quan, Tông tộc Vương hầu, tất cả đều nên chống lại cái giả để quay về với cái thật, từ bỏ tà đạo để đến với chánh Phật, hoăng dương kinh Phật, hoá độ những con người đang mê muội, giúp họ tỉnh ngộ, cùng nhau trở thành Phật; cho dù chúng ta quy y Phật rồi mà vẫn bị sa vào trong đạo ác, chúng ta cũng không muốn theo giáo lý của Lão Tử để mà bỗng chốc được sinh ra ở cõi trời”. Xét từ tư tưởng này của Lương Vũ Đế, cho dù sau này khi quy y Phật rồi mà bị sa đà vào một tà đạo, cũng không nên mê muội mà tin vào giáo lý của Lão Tử để rồi bỗng chốc được sinh ở cõi trời( tức là Thanh Niên), từ đó để thấy lòng quyết tâm rất lớn của ông ta khi từ bỏ Đạo giáo để quy y Phật. Hành động này của Lương Vũ Đế, về mặt thực tế nó cũng giống như một quyết định của Vua lấy Phật giáo làm Quốc Đạo. Đây là cao trào phát triển của Phật giáo ở Nam triều thời Lương Vũ Đế.

Tuy rằng tuyên bố từ bỏ Đạo giáo để quy y Phật, nhưng mà phải thụ giới thì mới trở thành một tín đồ chính thức của Phật giáo ( bằng một nghi thức nhất định nào đó, họ tiếp nhận giới luật của Phật giáo, sau đó sẽ trở thành tín đồ chính thức của Phật giáo). Năm Thiên Giám thứ 18 ( năm 519 sau Công nguyên) Lương Vũ Đế thọ Bồ Tát Giới tại điện Vô Ngại. Từ đó trở đi, mọi người đều gọi Lương Vũ Đế là Hoàng Đế Bồ tát. Nhưng Vũ Đế không chỉ thọ giới cho chính mình mà ông còn yêu cầu anh em mình trong Vương tộc, rồi đến con cái họ, rồi đến cả dân thường lẫn các tín đồ Đạo giáo tất cả đều phải thọ giới. Tương truyền sau khi Lương Vũ Đế thọ giới tất nhiên là phải trì giới ( tức là giữ giới). 

Ông ta thực hiện đúng yêu cầu giới luận của Phật giáo, hàng ngày ăn chay, qua giờ Ngọ là không ăn gì nữa ( giới luật Phật giáo quy định, những tín đồ chính thức của Phật giáo ( tức là các vị sư) quá giữa trưa rồi mặc dù là chưa ăn cũng không được ăn nữa); hơn thế nữa tín đồ Phật giáo không được đắm chìm trong xa hoa, lụa là gấm vóc; đồ đạc sinh hoạt, quần áo ăn mặc rất đơn giản, đi giày bện bằng cỏ, đội khăn bằng cỏ, đội khăn bằng tơ gai, phải cố gắng chịu nóng chịu lạnh,( tức là không được oán trách thời tiết nóng, lạnh) việc ăn việc mặc cũng nên như vậy ( tức là có gì mặc lấy, không đua đòi); Các phòng ngủ trong cung điện, mỗi chiều không được rộng quá một trượng ( quãng 3,5 m), thành chí có thể nhỏ hơn. Điều đó có thể thấy rằng, sau khi thọ giới Vua Lương Vũ Đế đã tự biến mình thành một tấm gương phản chiếu sáng ngời đối với vô số các ông Vua, các vị Đế Vương ăn chơi xa hoa, hoang dâm vô độ trong lịch sử Trung Quốc.

Một nhà thơ nổi tiếng đời đường tên là Đỗ Mục đã từng làm thơ để miêu tả về trung tâm Phật giáo của Nam Triều ở Kiến Khang ( ngày nay là vùng Nam Kinh tỉnh Giang Tô); ở đó có rất nhiều chùa thờ Phật. Trong bài thơ “ Giang Nam Xuân Tuyệt Phú” ông Đỗ Mục đã ghi rõ:” Nam Triều có 480 ngôi chùa, vô số lầu các chìm trong sương tuyết”. Thực tế sau khi từ bỏ Đạo giáo để thụ giới và giữ giới Phật giáo, Lương Vũ Đế cũng rất muốn xây dựng thêm nhiều chùa chiền. Khi ông còn tại thế, ở vùng Kiến Khang có đến hơn 500 ngôi chùa, một phần trong các ngôi chùa đó là xây dựng theo sắc lệnh của Lương Vũ Đế. Như chùa Trí Độ là Lương Vũ Đế đã ra sắc lệnh xây dựng cho cha mẹ họ Trương của mình vào năm đầu tiên của Thiên Giám, với mong muốn rằng sau này cha mẹ mất đi sẽ được phù hộ che chở; Như chùa Quang Trạch, trước kia là nhà ở của Lương Vũ Đế sau khi ông từ bỏ Đạo giáo để quy y Phật, ông đã cho sửa sang ngôi nhà ở cũ của mình thành một ngôi chùa thờ Phật; như chùa Giải Thoát do Lương Vũ Đế xây dựng cho Nguyên Phi của mình tên là Hi Đế, ông xây dựng vào năm thứ 10 của Thiên Giám ( năm 511 sau Công nguyên). Hi Đế đã qua đời từ khi Tiêu Diễn chưa lên ngôi Hoàng Đế. Sau khi Lương Vũ Đế lên ngôi, để tưởng nhớ Nguyên Phi, ông đã cho xây dựng chùa Giải Thoát; Như chùa Đồng Hành là do vào năm đầu tiên của Thiên Giám, Lương Vũ Đế cùng một số người trèo lên núi non trùng điệp, thế là liền ra sắc lệnh xây dựng chùa ở đây. 

Do đó ngôi chùa này còn có tên là chùa Thánh Du; Như chùa Đại Ái Kính, xây dựng ở vùng núi non trùng điệp, hiểm trở là do Lương Vũ Đế xây dựng cho cha mình tên là Tiêu Thuận vào năm Phổ Thông nguyên niên ( năm 520 sau Công nguyên); Như chùa Đồng Thái, vốn trước đây là công sở cho quan uý của triều đình, sau khi Lương Vũ Đế lên ngôi Hoàng Đế, ông liền ra lệnh xây dựng công sở thành một ngôi chùa, do ngôi chùa này rất gần cổng Đại Thông ( cửa lớn) của Hoàng Cung, cho nên ông đã lấy từ Đại Thông để đặt tên cho ngôi chùa này ( tức là ông đổi phụ âm đầu của hai chữ Đại Thông thành hai chữ Đồng Thái) nên ngôi chùa mới có tên là Đồng Thái. Ngôi chùa này rất gần Hoàng Cung, sau đó nó trở thành một ngôi chùa để Lương Vũ Đế tiến hành các nghi lễ tôn giáo chính. Để từng nhiều lần cưỡng bức người khác nhường lại ruộng đất. Được sự cổ vũ của Lương Vũ Đế, các thành viên của hoàng thất của các quan lại, các hào phú cũng thay nhau bắt chước Lương Vũ Đế, họ cũng thi nhau xây dựng chùa chiền, do đó số lượng chùa chiền ngày càng nhiều đến mức không đếm xuể.

Cùng với việc xây dựng chùa chiền, Lương Vũ Đế còn cho tạc hoặc đúc những bức tượng Phật to lớn. Các bức tượng Phật mà ông ta ra lệnh cho đúc hoặc tạc gồm có: Một bức tượng gồm 10 khối vàng và một bức tượng gồm 10 khối bạc ở chùa Đồng Thái, một bức tượng Phật Di Đà băng đồng cao một trượng tám ( quãng 6m) ở chùa Quang Trạch, tạc một bức tượng bằng gỗ chiên đàn cao một trượng tám ở chùa Đại Ái Kính. Lượng vàng, bạc, đồng v.v…dùng để đúc hoặc tạc tượng Phật to lớn này, Lương Vũ Đế đều lấy từ Quốc Khố (9). Không chỉ có đúc tượng, tạc tượng, Lương Vũ Đế còn yêu cầu phải bố thí cho nhà chùa. Vì ông ta tự phong cho mình là bồ tát Hoàng Đế, do đó bắt buộc ông ta phải làm điều thiện, chăm chỉ bố thí. Tương truyền có một lần, Lương Vũ Đế đã bố thí cho chùa 211 thứ gồm tiền, bạc, lụa, thiếc v..v….tổng trị giá là 10.960.000 quan (10)tiền. Vua đã làm như vậy, kẻ hạ thần cũng bắt chước. Thái tử, quan lại trong triều, thảo dân tất cả đều coi bố thí cho chùa là một biện pháp gieo giắc vườn phúc. Có một số thảo dân đã đem tiền bán vợ đợ con của mình đi bố thí cho chùa, điều đó có thể thấy sự lôi cuốn đã tiềm ẩn trong lòng người trong việc tôn sùng Phật giáo một khi đã được Hoàng Đế đích thân đề xướng.

Tổ chức những lễ hội Phật giáo linh đình cũng là niềm đam mê của Lương Vũ Đế. Theo sử sách, Lương Vũ Đế rất hay tổ chức lễ hội như lễ làm cỗ chay các món sơn hào hải vị, lễ làm cỗ chay tết Vu Lan, lễ hội Vô Ngại, lễ hội Bình Đẳng, lễ hội Vô Giá cho tứ bộ ( gồm tăng, ni, thiện nam, thiện nữ). Những lễ hội như vậy đã thu hút đến hàng nghìn, hàng vạn người tham gia. Trong những lễ hội về Phật Pháp như vậy, Lương Vũ Đế còn đích thân bước lên đài cao để giảng kinh, nhiều lần tổ chức sám hối tại các lễ hội Phật giáo, ông đã từng tổ chức lễ hội sám hối Phật giáo như: Sám Hối Niết Bàn,, sám hối Đại Bát Nhã, sám hối bát Nhã Kim Cang. Các bài sám hối này về sau được mọi người thu nhập lại đóng thành quyển gọi là “ Lương Đế Hối Kinh”, sau đó lại ghép vào trong cuốn” Đại Tạng Kinh” của Phật giáo. Cùng với việc tổ chức các lễ hội Phật giáo, có lúc Lương Vũ Đế còn tuyên bố đại xá cho thiên hạ, phóng thích những phạm nhân đang bị giam cầm, với ý muốn là cho những người này được hưởng ân trạch của Bồ Tát Hoàng Đế. Theo thống kê của những sử tịch có liên quan, trong 48 năm cầm quyền. Lương Vũ Đế đã từng tổ chức hơn 16 lần các lễ hội Phật giáo với khoảng hơn một vạn người tham gia, cứ trung bình ba năm tổ chức một lần.

Việc Lương Vũ Đế quy y Phật có một chuyện mà mọi người cứ tưởng như đó chỉ là chuyện trong các vở kịch mà thôi. Tứ là ông đã 4 lần xả thân ở chùa Đồng Thái. Bốn lần xả thân là: Một lần xả bỏ vàng bạc của cải, đem toàn bộ quần áo tư trang của mình cúng dường cho chùa; một lần xả thân khác là, ông tự nguyện vào chùa làm các công việc như quét tước, lao dịch phục vụ cho chúng tăng, với ý muốn là tạo công đức sau này được hưởng phúc. Năm đầu tiên của Đại Thông ( năm 257 sau Công nguyên) lúc đó Lương Vũ Đế khoảng 61 tuổi, và ông làm Hoàng Đế được 25 năm. 

Vào tháng ba năm đó, ông đi xe kiệu đến chùa Đồng Thái, quyết tâm xả thân ở ngôi chùa này. Nhưng sau đó được các hạ thần và chúng tăng khuyên giải, bốn năm sau ông lại lên kiệu trở về cung. Lần xả thân lần này của ông không được thành công như mong muốn, nhưng ông ta đã lập tức đại xá cho thiên hạ, đồng thời đổi liên hiệu Đại Thông. Hai năm sau đó, tức là vào năm 259 sau Công nguyên. Lương Vũ Đế lại đi xe kiệu đến chùa Đồng Thái, ở đó ông mở lễ hội Vô Giá cho tứ bộ. Tại lễ hội đó, Lương Vũ Đế đã cởi bộ long bào mà mặc vào bộ pháp y, ăn nghỉ tại một căn phòng rất giản dị trong chùa, lần này quyết tâm quyết ý xả thân. Quần thần đã nhiều lần khuyên giải, nhưng ông vẫn quyết tâm không trở về cung. 

Không còn cách nào khác, quần thần đành phải lấy 100.000 quan tiền để xin nhà chùa cho chuộc lại Bồ tát Hoàng Đế. Tăng chúng tại chùa Đồng Thái thấy quần chúng muốn chuộc lại Bồ tát Hoàng Đế với số tiền vàng to lớn như vậy, nhưng họ vẫn một mực không đồng ý; quần thần lại nhiều lần van lạy Lương Vũ Đế về Cung, mãi đến lúc này Lương Vũ Đế đã từng hai lần gửi lại sách để lại chùa Đồng Thái, trong sách đó ông đã nói rõ những điều khó hiểu, và trong các quyển sách đó ông luôn luôn dùng hai chữ “Đốn Thủ”, điều đó cho thấy rõ thái độ thành tâm thành kính của Lương Vũ Đế với Phật giáo và tăng chúng. Lần này xả thân ở chùa Đồng Thái, Lương Vũ Đế đã hơn 66 tuổi.

Vào năm 546 sau Công nguyên, tức là cách 17 năm so với lần sả thân trước, lúc này Lương Vũ Đế đã 83 tuổi. Vào năm đó Lương Vũ Đế lại đi xe kiệu đến chùa Đồng Thái, lại quyết tâm xả thân ở nơi đây, mặc cho quân thần van xin khuyên giải. Không có ý muốn trở về cung, Lương Vũ Đế ở luôn trong chùa đó hơn một tháng, sau đó Thái Tử là Tiêu Cương đến, dẫn theo quân thần và một số tiền vàng lớn để mong chuộc lại, lúc này bất đắc dĩ Lương Vũ Đế mới trở về cung, nhưng ông ta yêu cầu trước khi mình dời chùa này, lại phải tổ chức một lễ hội Phật giáo nữa, đồng thời đại xá cho thiên hạ.

 Chiều ý của Lương Vũ Đế, Hoàng Thái Tử Tiêu Cương cùng quần thần đã cho mở lễ hội Phật giáo, sau khi đích thân Lương Vũ Đế ban sắc lệnh đại xá cho thiên hạ, lúc này ông mới trở về Cung. Vào năm sau, tức là vào năm 547 sau Công nguyên, Lương Vũ Đế lại đi xe kiệu đến chùa Đồng Thái, lại mở lễ hội vô giá, lại cởi bộ bào để mặc lên bộ pháp y, lại sống trong một căn phòng rất giản dị, quyết tâm chỉ xả thân. Lúc này Lương Vũ Đế đã 84 tuổi. Ông lại sống trong chùa Đồng Thái hơn một tháng, quần thần lại xin dùng số tiền hơn hàng tỉ quan(100.000)(11)để chuộc ông trở về, quần thần lại đồng ý để ông ta làm lễ tạ ơn, các tăng ni trong chùa như lần trước. 

Lương Vũ Đế bốn lần xả thân, trong đó có hai lần ông ta cương quyết nhất, lần trước và lần sau cách 20 năm, trong đó hai lần quần thần sẵn sàng đặt số tiền hàng tỉ quan để chuộc ông về. Do Lương Vũ Đế xả thân cầu đạo mà chùa Đồng Thái trở nên giàu có vô cùng. Sở dĩ Lương Vũ Đế muốn xả thân đến với Phật giáo mà không muốn tiếp tục làm Đế Vương nữa phần lớn là do tín ngưỡng chủ quan của ông. Ngoài việc ấy ra trong bối cảnh tuổi cao sức yếu và tình thế chính trị ngày càng bất ổn, ông ta muốn tỏ lòng thành kính vô cùng của mình đối với Phật giáo, không còn lưu luyến gì với ngôi báu Đế Vương nữa. Đồng thời ông tự mình làm gương cho mọi người để dấy lên một phong trào tôn thờ Phật giáo trong nhân dân, mở rộng uy thế, tiếng tăm của Phật giáo, từ đó mà thu hút sự chú ý của mọi người. Ngoài ra, thông hành qua hành động xả thân, ông ta còn muốn kiểm nghiệm mức độ trung thành của con cái, những người thân thuộc, bách quan quần thần đối với mình, qua đó tăng cường xây dựng quyền uy tuyệt đối của mình. Nhưng việc Lương Vũ Đế xả thân đến với Phật giáo, cho dù là có mặt cũng đáng chê bai, cũng đáng nực cười, nhưng trong đó đã ẩn chứa ý đồ là một mũi tên trúng nhiều đích.

Do đó, không thể đánh giá một cách đơn giản rằng, Lương Vũ Đế từ bỏ Đạo giáo để quy y Phật hay là xả thân cầu Phật. Trên thực tế trong 48 năm trị vì, ông ta là một con người thành tâm thờ Phật. Do ông đã thành tâm tôn thờ, nên Phật giáo đã được phát triển tương đối ở Nam Triều; một số hành động của ông đã khuyến khích sự phát triển của Phật giáo. Ông ta rất ưu đãi các tăng lữ Phật giáo, ban thưởng cho những ai học giáo lý Phật giáo. Hồi đó có một số tăng sĩ Phật giáo nổi tiếng như Bảo Lượng, Chí Tạng, Tăng Mân, Pháp Vân, Pháp Hiến, Tăng Thiên, Tuệ Siêu, Minh Triệt, v.v…đều nhận được sự sùng kính của Lương Vũ Đế. Lương Vũ Đế thường xuyên cho họ đi giảng kinh thuyết pháp, khích lệ họ làm các công việc như viết sách về đề tài Phật học. Đối với một số người theo học các tăng sĩ, Lương Vũ Đế đã dành cho họ những địa vị xã hội tương đối cao và được hưởng cuộc sống hậu đãi vô cùng hậu hĩ: Ngài trí Tạng có thể tự do ra vào Hoàng cung, thành chí có thể ngồi bên cạnh ngự toạ trong cung điện; một số tăng sĩ còn được Lương Vũ Đế trực tiếp mời về làm sư trong nhà; có một số người được bổ nhiệm làm Tăng Chính. Tất cả những hành động đó đã cung cấp những điều kiện tiền đề vô cùng thiết thực cho sự phát triển về lý luận của Phật giáo.

 Cũng thời gian này, Lương Vũ Đế còn ra sắc lệnh biên dịch thêm một khối lượng lớn điển tịch ( sách cổ) Phật giáo. Thời kỳ đầu Lương, ở vùng Phù nam ( ngày nay là Cam-pu-chia), các tăng sĩ Ca bà la và Manđàla đã đến vùng Kiện Khang, Lương Vũ Đế liền ra sắc lệnh yêu cầu hai vị tăng này dịch những bộ kinh Phật tiếng phạm họ mang đến. Ngày đầu dịch kinh, Lương Vũ Đế còn đích thân đến nơi dịch xem họ làm việc, đồng thời ông cũng ra sắc lệnh ông Bảo Xướng, Tuệ Siêu cùng một số tăng sĩ người hán khác giúp đỡ. Họ đã dịch được các bộ kinh như “ kinh A Dục Vương”, “ Giải pháp Đạo Luận” v.v…Tất cả là 11 bộ 38 quyển. Chẳng bao lâu sau, có một vị tăng chân đế tên là Ưu Thiền Ni từ Ấn Độ sang Kiên Khang, Lương Vũ Đế liền mời ông ta dịch một số kinh Phật như “ Nhiếp Đại Thừa Luận”. Khi Lương Vũ Đế còn trị vì, ông còn ra sắc lệnh yêu cầu các vị cao tăng phải biên soạn một số sách về Phật học, chủ yếu có cuốn “ Kinh Luật Dị Tướng” của Thích Bảo Xướng, cuốn “ Bát Nhã Sao” của Thích Tuệ Lệnh v.v…Trong đó có cuốn “ Kinh Luật dị tướng” của Thích Bảo Xướng là bộ sách đầu tiên về đề tài lịch sử của Phật giáo Trung Quốc.

Sau khi quy y Phật, Lương Vũ Đế không chỉ là Đế Vương của trần gian, mà ông còn được yêu cầu làm Tăng Chính mặc áo trắng. Tuy đã được các tăng sĩ khuyên can là chấm dứt làm việc đó, nhưng mục đích của việc đó là vì sự nghiêm khắc của giới luật Phật giáo. Sau khi không còn mặc áo trắng làm Tăng Chính nữa, Lương Vũ Đế liền cử ngài Pháp Siêu làm Tăng Chính, quản lí toàn bộ tăng ni. Ngài Pháp Siêu phụng mệnh của Lương Vũ Đế đã viết cuốn “ Xuất Yếu Luận Nghĩa” gồm 14 quyển sau đó giao cho Lương Vũ Đế đi phân phát khắp đất nước, yêu cầu toàn bộ tăng ni Phật giáo trong toàn quốc làm theo quyển sách này. Phật giáo vốn không hề chủ trương ăn chay một cách tuyệt đối. Từ khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc đến tận thời kỳ Lương, các tăng sĩ xuất gia nói chung vẫn còn ăn mặn ( tức là ăn thịt), nhưng mà họ chỉ ăn cái gọi là “ tam tịnh nhục”. “Tam tịnh nhục” là thịt súc vật mà không do tự tay mình giết, không phải giết để mời mình ăn, hoặc đó là thịt của con vật đã chết rồi; cách giải thích thứ hai thì “ tam tịnh nhục” là một thứ thịt xúc vật do mình không tận mắt chứng kiến họ giết, không nghe thấy tiếng kêu thét của con vật bị giết, không phải tự mình giết để mình ăn. Trước thời kỳ Lương Vũ Đế, các tu sĩ xuất gia của Phật giáo đều có thể ăn “ tam tịnh nhục”. Sau khi quy y Phật, Lương Vũ Đế phải quyết tâm thay đổi bằng được tập quán ăn thịt của các tu sĩ xuất gia.

 Để tuyên truyền và quán triệt chủ trương không ăn thịt, ông ta đã viết một quyển sách gồm 4 tập lấy tên là “Đoạn Tửu Nhục Văn”. Ông nêu rõ:” Tất cả những tăng sĩ đều được tin tưởng một cách đúng đắn luật nhân quả, kinh thuyết, Phật thuyết. Kinh Phật đã nói rõ làm ác chắc sẽ có ác báo, làm thiện sẽ có thiện báo, tu sĩ xuất gia cần phải coi việc thiện làm gốc, không nên ăn thịt ăn cá. Giờ đây đệ tử của Phật mà vẫn còn thèm thịt, thì điều đó là tội lỗi, lỗi này nhất định sẽ bị quả báo. Do đó, những tăng sĩ cần phải đoạn tuyệt với việc ăn thịt ăn cá và uống rượu”. Cơ sở lý luận của Lương Vũ Đế chủ yếu là theo giáo nghĩa Phật giáo đại thừa, tức là tăng sĩ cần phải có tấm lòng từ bi rộng lớn để rồi không thể gây lên tội lỗi nữa. Để chủ trương này được quán triệt, Lương Vũ Đế đã dùng quyền lực của một vị Đế Vương trần gian ra sắc lệnh yêu cầu tất cả tăng ni không được tiếp tục ăn thịt ăn cá nữa. Ông nói rõ: “ Tăng chúng ngày nay mỗi người đều phải cần kiệm, nếu như đã mặc áo của Như Lai (11)mà không làm việc của Như Lai thì đó chỉ là những kẻ giả danh tăng sĩ, họ chẳng khác gì những tên đạo tặc. Nếu như có tăng sĩ nào vẫn tiếp tục thèm thịt và thèm rượu, thì cứ theo phép Vua mà sử tội” do đó, kể từ thời Lương Vũ Đế trị vì ở đất Hán đã hình thành một phong tục mà tăng sĩ ( xuất gia) và các cư sĩ ( tại gia) nhất luận ăn chay. Đây là một điểm riêng so với giáo nghĩa Phật giáo ở một số nơi khác ( như vùng Tây Tạng và một số quốc gia khác ở vùng Đông Nam Á và Nhật Bản).

Trong vòng 48 năm trị vì của mình, Lương Vũ Đế không chỉ tu hành theo đúng giới luật quy định cho một cư sĩ Phật giáo như ăn chay, không uống rượu, không xem và nghe ca, múa nhạc, kiêng khem việc ân ái vợ chồng v.v…Ông ta còn làm công việc viết sách Phật học. Các tác phẩm về Phật học của ông ta chủ yếu là một số chuyện chú giải về kinh Phật và văn sám hối, tổng hợp có hơn 16 loại. Có một số sử tịch ( sách sử cổ) còn nói rằng, Lương Vũ Đế không chỉ tin chánh pháp một cách đúng đắn, giỏi về kinh điển của Thích Ca Giáo, ý nghĩ luôn luôn trong sáng, làm việc gì cũng soi xét kỹ càng và làm đến nơi đến chốn. Ông ta không chỉ có trình độ khá cao về Phật học, mà ông ta còn giỏi về nhiều trong thứ lục nghệ của thế gian, giỏi chơi cờ cùng một số trò chơi khác, biết xem đất thổ địa, xem bói quẻ bói bài, thứ gì ông ta cũng biết, cũng giỏi. Ông ta cũng siêng năng văn chương học hành, cưỡi ngựa, bắn cung, không thứ gì không giỏi. Đúng như sử tịch ( sách sử cổ) đã từng ca ngợi về ông ta, Lương Vũ Đế quả thực là một con người đa tài năng. 

Ngoài việc viết sách về Phật học, Lương Vũ Đế cũng viết về một lượng sách đồ sộ về nho học và Đạo giáo. Theo ghi chép trong sử tịch, ông ta đã từng biên soạn hơn 200 cuốn sách như “ Chế Chỉ Hiếu Kính Nghĩa”,” Trung Dung Giảng Sớ”.” Mao Thi Vấn Đáp”,” Xuân Thu Vấn Đáp”,” Thượng Thư Đại Nghĩa”,” Lão Tử Giảng Sớ”.” Khổng Tử Chính Nghĩa” v.v…Ông ta còn viết bộ “ Thông Sử” gồm 600 quyển và bộ “ Kim Hải” 30 cuốn. Thông qua số lượng sách đồ sộ như vậy, ta có thể thấy rằng Lương Vũ Đế từ bỏ Đạo giáo để quy y Phật, đồng thời ông sùng bái Phật giáo không giống như sự sùng bái mù quáng của một số Đế Vương phong kiến đối với Phật giáo, mà sự tôn sùng của ông có một số tư tưởng nhất định. Điều này được thể hiện rõ nét nhất ở chỗ là tư tưởng tam giáo đồng nguyênvàtam tam giáo tịnh dụngcủa ông ta.

Ngay từ thời Tây Tấn, Đạo sĩ Vương Phù đã từng viết cuốn “ Lão Tử Hoá Hồ Kinh”, nói rằng Thích Ca Mâu Ni chính là đệ tử của Lão Tử mà Lão Tử đã hoá phép nên sau khi Lão Tử chuyển xuống sinh sống ở vùng miền Tây. Mục đích của cuốn sách đó là muốn nâng cao vị trí của Đạo giáo. Đến thời kỳ Nam Bắc Triều, một số tăng sĩ Phật giáo đã sửa lại truyện Lão Tử hoá phép thành người Hồ thành chuyện Phật hoá phép ra Lão Tử và Khổng Tử. Có một số kinh Phật thì nói rằng, sau khi Thích Ca Mâu Ni thành Phật ngài liền cử ba đệ tử lớn nhất của mình đến vùng Trấn Đán ( Trung Quốc ngày nay) để tiến hành giáo hoá. Một người được gọi là Nho Đồng Bồ Tát đó chính là Khổng Tử; một người được gọi là Tịnh Quang Bồ Tát, đó chính là ngài Nhan Hồi, đệ tử của Khổng Tử; một người nữa là Ma Ha Ca Diếp đó chính là Lão Tử, v.v…Tư tưởng Tam Giáo Đồng NguyênvàTam Giáo Tịnh Dụngcủa Lương Vũ Đế vừa mới ra đời, lập tức ông lấy đó làm tiền đề. Ngay từ khi ông đã từ bỏ Đạo giáo để quy y Phật, ông đã từng ra chiếu thư chỉ rõ:” Tôn giáo trên thế gian có 96 loại nhưng chỉ có Phật giáo là con đường đúng đắn, còn lại 95 loại đều là tà đạo. Nay ta muốn từ bỏ tà đạo vớ vẩn kia đi, mà chỉ coi Phật giáo là chính đạo. Lão Tử, Chu Công, Khổng Tử, v.v…tuy đều là đệ tử của Như Lai, nhưng vẫn còn theo tà đạo, chỉ làm những việc thiện ở thế gian, không muốn vứt bỏ phàm tục để tu thành thánh. Do đó làm Phật sự là phải tin tưởng một cách tuyệt đối và phải có lòng kiên cường, còn làm việc Lão Tử thì niềm tin bay bổng và rất yếu ớt, do đó ta cần phải bỏ một niềm tin yếu ớt, bay bổng đó đi để theo chánh tín”.Trong chiếu thư đó Lương Vũ Đế đã coi Lão Tử , Chu Công, Khổng Tử là đệ tử của Phật đà, trên thực tế là ông muốn nói rõ Nho Giáo và Đạo giáo bắt nguồn từ Phật giáo. Trong lĩnh vực tín ngưỡng tôn giáo, Phật giáo là chính đạo, Nho Giáo Đạo giáo là tà đạo. Nho Giáo, Đạo giáo không thể giúp cho con người thoát được vòng luôn hồi sinh tử để tu thành Phật. Nhưng Nho Giáo, Đạo giáo giúp con người ta trở nên thiện hơn, hữu ích hơn, do đó vẫn cần phải đề xướng.

Trong cuốn “ Thuật Tam Giáo Thi” của mình, Lương Vũ Đế cũng thể hiện rõ tư tưởng tam giáo đồng nguyênvà tam giáo tịnh dụng. Trong bài thơ ông có viết:” Thuở nhỏ ta đã học Chu Khổng, ta đã học hết sáu kinh. Hiếu nghĩa bầy ra trong sách, lòng nhân từ đầy trong sách sử. Lời thô tục thì quý ở chỗ không bay bổng, làm việc thiện tốt ở cái tâm cái đức của chúng sinh. Trong lòng ghi nhớ sách Đạo giáo hữu danh và vô danh, điều tốt đã khắc ở bảng vàng. Lời nói thẳng là có ý tốt, việc làm thường quý ở chỗ âm đức(12). Con người thanh cao thì được sống lâu. Cuối đời được đọc sách Phật, luôn luôn hiện sao sáng. Chịu khó tu tập thì trí tuệ sẽ sáng, luật nhân quả sẽ hiểu rõ hơn. Các giáo phái đều bình đẳng, đều trở về chỗ không sinh. Cần phải hiểu rõ tất cả đều là con của một gốc, cầm bút viết phải biết rằng mình không hề run sợ, một nguồn không thể có hai thánh, chân lý thiện không thể chia ba”. Những điều đó Lương Vũ Đế đã tổng kết suốt quá trình học tập của mình, tức là suốt quá trình từ khi đi học Nho Giáo, học Đạo giáo đến khi tôn sùng Phật giáo và học Phật Pháp. Ở đó ta cũng thấy rõ thái độ của ông ta đối với cả ba tôn giáo; ông ta cho rằng tam giáo đồng nguyên, nhưng chỉ duy nhất có Phật giáo là tôn giáo toả sáng nhất.

Từ bỏ Đạo giáo để quy y Phật đó là sự thay đổi vô cùng lớn lao trong tín ngưỡng đối với bản thân Lương Vũ Đế. Mặc dù sự thay đổi này đã tạo nên ảnh hưởng xã hội vô cùng to lớn. Nhưng từ bỏ Đạo giáo để quy y Phật không có nghĩa là Lương Vũ Đế từ bỏ luôn sự tôn trọng, sự mến mộ đối với Đạo giáo và Nho Giáo, hoặc là dùng Phật giáo để bài xích Nho Giáo và Đạo giáo để quy y Phật chỉ là biểu hiện điểm chủ yếu trong lĩnh vực tôn giáo mà thôi. Đối với học thuyết đạo gia và Đạo giáo, Lương Vũ Đế vẫn vô cùng sùng tín, bản thân ông ta vẫn thường xuyên giảng “ Lão Tử” và “ Trang Tử” cho các thần liêu. Hồi đó ông ta có mỗi quan hệ vô cùng đặc biệt với một đạo sĩ nổi tiếng của Đạo giáo tên là Đào Hoằng Cảnh. Khi nghe Lương Vũ Đế khởi binh, Đào Hoằng Cảnh lập tức cử em mình đến ủng hộ, lại viết lời sấm thành chữ “ lương”, sau đó lệnh cho em mình đem vào. Sau khi lên ngôi Hoàng Đế, Lương Vũ Đế lại càng ưu đãi Đào Hoằng Cảnh , thường xuyên qua lại thăm viếng, chuyện trò với nhau. Đào Hoằng Cảnh đã dùng tài đạo thuật của mình làm lịch năm, thần đan cho Lương Vũ Đế. Lương Vũ Đế phục thần đan linh nghiệm càng tỏ ra kính trọng Đào Hoằng Cảnh, mỗi lần được Đào Hoằng Cảnh tặng sách, Lương Vũ Đế đều thắp hương làm lễ đón nhận rất thành kính. Lương Vũ Đế đã nhiều lần giáng sắc lệnh yêu cầu Đào Hoằng Cảnh xuống núi giúp ông việc quốc gia, nhưng đều bị ông từ chối; Lương Vũ Đế lại đành phải mỗi khi có đại sự hay có điềm báo trước hung dữ đều thân đến hỏi ý kiến của Đào Hoằng Cảnh, do đó mà Đào Hoằng Cảnh được người lúc bấy giờ đặt cho cái tên là “ Tể Tướng trong núi”. Điều đó có thể cho thấy, Lương Vũ Đế không hề hoàn toàn bỏ Đạo giáo.

Đối với Nho Giáo, Lương Vũ Đế càng coi trọng hơn. Một năm sau ngày ông từ bỏ Đạo giáo để quy y Phật, liền hạ chiếu đặt “ngũ kinh” là hàm bắc học. Thêm vào đó đặt “ Hiếu kinh” là một thứ trợ giáo. Bản thân ông ta còn viết cuốn trường thiên ( nhiều chương) “ Hiếu tư phú”, ca ngợi tư tưởng trung hiếu lưỡng toàn của Nho gia. Trong đó ông ta cũng có nhắc đến chuyện bản thân mình đã đọc “ Hữu tử truyện” mỗi lần ông ta nhớ đến câu chuyện cảm động về Thầy Tử Lộ đã kể chuyện với Khổng Tử về việc hiếu thảo với song thân, thì ông cảm kích vô cùng:” Mỗi lần nhớ đến câu chuyện ấy, việc đã qua nhưng ý tưởng vẫn còn, công ơn cha mẹ sao báo đáp hết được!” Về chuyện này, Lương Vũ Đế đã trở thành một hình tượng nêu lên tư tưởng hiếu nghĩa của Nho Gia. Ông ta từ bỏ Đạo giáo để quy y Phật, cho xây dựng thêm nhiều chùa, trong đó có những ngôi chùa như Đại Ái Kính, Chí Lộ, chính là những ngôi chùa mà ông xây dựng cho cha mẹ mình, điều đó đã biểu lộ tinh thần nhớ đến công ơn của cha mẹ, đồng thời cũng tuyên truyền hai thuyết giáo là trung hiếu của Nho Giáo và báo ứng của Phật giáo, trong đó ông cũng có ý muốn nối liền Nho Giáo và Thích Ca giáo. 

Do đó chúng ta có thể kết luận rằng, Lương Vũ Đế vừa là vị Đế Vương phong kiến rất có tài năng, vừa là tín đồ Phật giáo am hiểu sâu về Phật giáo. Trong 48 năm trị vì, ông đã thúc đẩy Phật giáo ở vùng Giang Nam phát triển mạnh mẽ hơn, hơn thế nữa thông qua bản thân mình và thông qua sự đề xướng cũng như sự chỉ đạo của chính mình, ông ta bước đầu đã giải quyết được sự xung đột do mâu thuẫn giữa Phật giáo và nền tư tưởng văn hóa truyền thống của Trung Quốc. Đặc biệt là tư tưởng tam giáo đồng nguyênvà tam giáo tịnh dụngcủa ông ta, thực ra đó là một sự tổng kết về sự xung đột do mâu thuẫn kể trên; nó cũng có ý nghĩa về mặt lịch sử nhất định. Nho Giáo thì nói rõ khi trị quốc bình thiên hạ, cần phải giữ tam cương ngũ thường của phong kiến, nội dung của Nho Giáo vừa có lý luận chính trị xã hội, vừa chứa đựng cả học thuyết đạo đức luân lí.

 Do đó Nho Giáo được các vị thống trị phong kiến Trung Quốc tôn thờ là tư tưởng thống trị chính thống; Còn trong Đạo gia và Đạo giáo có nội dung về phép thuật chính trị các mưu đồ, mưu lược, còn nói rõ giảm bớt ham muốn, tu dưỡng đức tính để thành tiên, vừa có thể thoả mãn ảo tưởng trường sinh bất lão mà giai cấp thống trị đang mong muốn, đang theo đuổi, nó lại vừa là tín ngưỡng tôn giáo bình thường và phổ cập cho toàn xã hội; Phật giáo thì dùng thuyết nhân quả báo ứng để giải thích sự giàu nghèo và thứ bậc cao thấp trong xã hội, lợi dụng việc giải thoát thế sự tu thành Phật để mang đến cho con người, một sự gửi gắm về tinh thần nào đó. Có thể thấy rằng, từ những góc độ khác nhau bằng cách đánh giá khác nhau, thì cả ba tôn giáo trên đều có một mục đích chung là duy trì và giữ gìn, củng cố trật tự cai trị của giai cấp phong kiến. Điều đó chính là chủ trương tam giáo đồng nguyên(13), và cũng là nền móng của chính sách tam giáo tịnh dụng(14)của Lương Vũ Đế.

Biện Tiên sau nạn khởi tiêu tường

Vũ Văn Ung hai lần hưng pháp hoạ

Những năm cuối thời Bắc Nguỵ, mâu thuẫn giai cấp càng trở nên gay gắt, xã hội loạn lạc bất ổn, sự đấu tranh để tranh quyền đoạt vị trong nội bộ giai cấp thống trị cũng ngày càng gay gắt, do đó mà chính quyền phong kiến phía Bắc Nguỵ đã cai trị phía Bắc Trung Quốc quãng 150 năm nay cũng nảy sinh chia rẽ. Năm Vĩnh Hi thứ 3( năm 534 sau Công nguyên) Bắc Nguỵ Hiếu Vũ Đế Nguyên Tu phải chạy về phía Tây đến Trường An. Bắc Nguỵ Bộ tướng tên là Cao Hỉ lập người khác tên là Hiếu Tịnh Đế Nguyên Thiện Kiến, dời đô về Nghiệp Thành. Từ đó trở đi, chế độ thống trị ở phương Bắc Trung Quốc được cai quản bằng hai chính quyền phong kiến với hai trung tâm là Trường An và Nghiệp Thành. Về mặt lịch sử, người ta gọi đó là Tây Nguỵ. Năm 550 sau Công nguyên, con trai của Cao Hỉ là Cao Dương phế nhà Đông Nguỵ, thiết lập nên chính quyền Bắc Tề. Bảy năm sau, ông Vũ Văn Giác ở Trường An cũng đã phế nhà Tây Nguỵ, lập nên chính quyền nhà Bắc Chu. Năm 577 sau Công nguyên, Bắc Chu diệt Bắc Tề. Đến năm 580 sau Công nguyên, nhà Bắc Chu về cơ bản đã thống nhất toàn bộ phương Bắc Trung Quốc. Vào năm sau, một người họ hàng ngoại tộc nhà Bắc Chu tên là Dương Kiên đã phế nhà Bắc Chu lập lên nhà Tuỳ.

Do Thái Vũ Đế nhà Bắc Nguỵ có hành động diệt Pháp khiến cho Phật giáo ở phương Bắc lâm vào cảnh bị huỷ hoại một cách trầm trọng, nhưng Văn Thành Đế lại khát khao phục hưng Phật Pháp, nên Phật giáo Bắc Triều lại mau chóng được hưng thịnh trở lại. Chịu ảnh hưởng hoàn cảnh xã hội và văn hoá tư tưởng, nền Phật giáo Bắc triều cũng có đặc điểm hết sức nổi bật. Trước tiên, Phật giáo ở Bắc Triều chú trọng việc tu hành theo tông giáo thiền và giữ giới, điều này khác hẳn với tình hình Phật giáo ở Nam Triều là chỉ chú trọng giáo nghĩa, giải thích Phật giáo theo kiểu huyền bí khó hiểu; thứ hai nền Phật giáo ở Bắc triều rất chú trọng việc xây dựng chùa tạc tượng, lấy đó làm hành động tích luỹ công đức công đức để xây dựng nền móng cho kiếp sau. Theo sách sử, những năm cuối thời Bắc Nguỵ, sự phân bố các chùa ở Miền Bắc chỉ có Lạc Dương, và trong thành Lạc Dương thì có hơn 1000 ngôi chùa; tất cả các ngôi chùa ở đó đều được xây dựng và trang trí rất xa hoa lộng lẫy. Nhưng cũng theo ghi chép của sử tịch, chỉ sau hơn 20 năm xây dựng đất nước, trong nội địa nhà Bắc Tề có khoảng hơn 4000 ngôi chùa, tăng ni có quãng hơn 2 vạn. Trong nội địa nhà Bắc Chu cũng có khoảng gần 1000 ngôi chùa. Điều đó có thể cho thấy rõ sự hưng thịnh xưa nay chưa từng có của Phật giáo Bắc triều.

Sự phát triển đó của Phật giáo phương Bắc có mối liên hệ trực tiếp với sự khởi xướng phục hồi Phật giáo của các Đế Vương Bắc Triều. Nhưng môi trường phát triển của Phật giáo Bắc triều không phải lúc nào cũng gặp thuận lợi. Quãng 100 năm sau khi Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế Thác Bạt Đạo huỷ diệt Phật Pháp, thì lại đến Bắc Chu Vũ Đế Vũ Văn Ung một lần nữa khởi xướng việc huỷ diệt Phật Pháp.

Bắc Chu Vũ Đế Vũ Văn Ung lên ngôi vào năm 560 sau Công nguyên. Theo ghi chép, lúc đầu mới lên ngôi, Chu Vũ Đế Vũ Văn Ung rất có cảm tình với Phật giáo, ông đã từng cho tạc tượng Thích Ca Mâu Ni sơn son thiếp vàng cao 1 trượng (14)6 xích (4,5m), đồng thời cho đúc và cho tạc quãng 220 bức tượng về Bồ tát, Thánh Tăng, Thầy Trò Kim Cương vây quanh Bảo Tháp v.v…ông còn ra sắc lệnh xây dựng các ngôi chùa như chùa Ninh Quốc, chùa Hội Xương, chùa Vĩnh Ninh v.v…ông còn để dành một khoản ngân khố (15)nuôi 1800 tăng sĩ, tổ chức người chép hơn 1700 bộ kinh luận Phật giáo. Điêu đó có thể thấy rằng, lúc đầu lên ngôi, về cơ bản Vũ Văn Ung là một con người rất có nhiệt huyết trong Phật sự. Lịch sử Phật giáo có sự chuyển ngoặt. Sở dĩ Bắc Chu Vũ Đến muốn diệt Phật Pháp là vì bị xúi dục và ủng hộ của một đạo sĩ Đạo giáo tên là Trương Tân và một tăng sĩ Phật giáo tên là Vệ Nguyên Tung. Nhưng trên thực tế, lúc đầu Bắc Chu Vũ Đế hoàn toàn không có ý diệt Phật Pháp, mà chỉ muốn đứng từ góc độ sự tồn vong của nền chính trị phong kiến mà thảo luận kĩ xem trong ba tôn giáo là Nho Giáo,Đạo giáo, Thích Ca giáo , thì tôn giáo nào có lợi nhất trong nền thống trị của phong kiến, để rồi từ đó xếp đặt thứ bậc của ba tôn giáo. Trong quá trình thực hiện việc đó mà xếp đặt thứ bậc của ba tôn giáo. Trong quá trình thực hiện việc đó, giữa ba tôn giáo xảy ra một sự đấu tranh vô cùng gay gắt, đặc biệt là giữa Phật giáo và Đạo giáo. Hai tôn giáo này thì gần như một mất một còn, không ai chịu nhường ai. Cuối cùng là dẫn đến bi kịch của lịch sử là diệt Phật Pháp. Trong đó có một số cách lí luận và đánh giá của các ông như Vệ Nguyên Tung, Trương Tân và một số người khác đã dẫn đến lòng quyết tâm tiêu diệt Phật Pháp của Bắc Chu Vũ Văn Ung.

Vào quãng năm đầu tiên của Thiên Hoà ( năm 566 sau Công nguyên), Bắc Chu Vũ Đế đã nhiều lần hạ chiếu lệnh tập hợp các quần thần, các Sa môn, các Đạo sĩ Đạo giáo để thảo luận về vấn đề Nho Giáo, Thích Ca giáo và Đạo giáo. Ông ta yêu cầu các tăng sĩ cùng những người ở thế tục cứ tự do phát biểu, ai có ý kiến gì cứ thoải mái nói ra. Do đó sự đề xướng của ông ta, vào năm Thiên Hoà thứ hai( năm 567 sau Công nguyên), một tăng sĩ tên là Vệ Nguyên Tung đã dâng một chiếu thư lên Bắc Chu Vũ Đế , yêu cầu giảm bớt các chùa và các tăng sĩ. Ông Vệ Nguyên Tung là người Ích Châu thành bộ, thuở niên thiếu đã xuất gia làm tăng, đã từng được coi như một tăng sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ, nhưng hết thời. Theo truyền thuyết, Vệ Nguyên Tung rất giỏi về việc bói toán âm dương, xem ngày kén giờ. Ông ta cũng khá nổi tiếng với dáng vẻ giả điên giả dại, đi lang thang khắp nơi, thu thập các câu thơ về sấm ký để dự đoán về tương lai. Về sau ông mặc cả áo của thế tục đến trước Thục và vào Trường An, kết bạn với rất nhiều kẻ quyền quý ở Bắc Chu, và cũng được sự coi trọng của Bắc Chu Vũ Đế. Trong chiếu thư của Vệ Nguyên Tung dâng lên Bắc Chu Vũ Đế, ông ta đã liệt kê ra 15 điều. Nội dung chủ yếu của nó là: Thứ nhất, các chùa thờ Phật cùng các tượng Phật chẳng có lợi ích gì cho việc trị quốc an dân, vậy nên phá bỏ. Ông ta nói rõ, truyền thuyết từ thuở bình mình khai thiên lập địa đến nay, đất nước không hề có Phật giáo, thiên hạ vẫn ổn định; nhưng từ khi Phật giáo thịnh hành cùng Nam Triều, chùa chiền mọc lên san sát, nhưng ngược lại lại đẩy đất nước vào cảnh suy vong. Điều đó có thể thấy lòng ngưỡng mộ Phật không chỉ có ở chỗ xây dựng thật nhiều chùa chiền, mà phải hiểu cái tinh thần cơ bản của Phật giáo, tức là phải lấy đại từ đại bi làm gốc, cuộc sống dân được an lạc, lợi quốc lợi dân. 

Theo tinh thần này thì không nên bắt nhân dân phải đóng góp nhiều để xây chùa chiền, mà cũng chẳng cần phải quỳ bái mấy bức tượng Phật gỗ hoặc bằng đất sét. Thứ hai, cần phải cải cách triệt để Phật giáo, đặt Phật giáo vào trong quốc pháp của thế tục. Ông ta cho rằng, cần phải thiết lập một xã hội lí tưởng, trong đó ba tôn giáo là Nho Giáo, Phật giáo, và Đạo giáo cần phải hoà hợp. Trong xã hội đó, Hoàng Đế cũng giống như Phật tổ, cần phải được sự tôn kính quý trọng của tất cả mọi người. Các tín đồ Phật giáo, cho dù là các Tăng sĩ ( xuất gia) hay người thế tục ( cư sĩ), nếu từ bỏ sự chi phối của cuộc sống vợ chồng thì nó có thể đắc đạo. Không cần phải xây chùa, hệ thống tổ chức của giáo hội cần phải hoà hợp với xã hội ở thế tục, đạo đức của Phật giáo chính là đạo đức của xã hội. Thứ ba, cần phải thông qua biện pháp kinh tế để thay đổi thói hư tật xấu, tham lam gian trá trong giới Phật giáo. Ông ta chỉ rõ, đối với một số người nghèo khổ nhưng có đức hạnh, thì chỉ cần thu tô mà miễn cho họ lao dịch, những tăng sĩ giàu có mà đức hạnh thiếu kém cỏi, thì ngoài việc thu nạp tô ra, cần bắt họ đi lao dịch, lấy đó là cơ sở để trừng trị thói tham lam bủn xỉn, giáo dục lòng trung hiếu, điều đó sẽ đạt được mục đích cần làm thay đổi thói tham lam đồi bại trong giới Phật giáo. Những luận điểm trên đây của ông Vệ Nguyên Tung chủ yếu là tấn công thẳng vào thực tế của hiện tượng chỉ giỏi lý luận suông mà vẫn tham lam hủ bại trong giới Phật giáo lúc bấy giờ. Từ đó mà ông ta nêu ra một biện pháp có tính chất cơ bản nhằm cải cách Phật giáo. Ông ta không hề có ý phế bỏ Phật giáo, nhưng ông ta muốn Phật giáo là một tôn giáo tồn tại với mục đích đại từ đại bi, bảo vệ lợi ích cho chúng sinh, an lạc bình đẳng, từ đó giúp cho Phật giáo tiếp tục phát triển. Do đó sau khi xem bức chiếu thư này, Bắc Chu Vũ Đế liền vô cùng vui thích. Nhất là trong bức chiếu đó, vệ Nguyên Tung lại tán dương Chu Vũ Đế là một con người tích cực lo việc nước, lợi nước lợi dân, quả đáng là một bậc Như Lai của Dương Thế; yêu cầu toàn bộ tăng ni thế tục trong cả nước phải tôn kính; điều này càng làm cho Bắc Chu Vũ Đế vui thích.

Sự kiến giải của Vệ Nguyên Tung ở một ý nghĩa nhất định nào đó đã càng củng cố cho lòng quyết tâm sắp đặt các ngôi thứ các tôn giáo của Bắc Chu Vũ Đế. Năm Thiên Hoà thứ 4 ( năm 569 sau Công nguyên) Chu Vũ Đế chiêu tập thần liêu, chúng tăng Sa môn, đạo sĩ Đạo giáo tại chính diện, thảo luận những ưu khuyết điểm của ba tôn giáo. Qua một hồi lâu thảo luận cùng tranh luận, Chu Vũ Đế đặt Nho Giáo lên hàng đầu, đặt Phật giáo ở cuối cùng và để Đạo giáo vào đầu tiên của vô danh, và đặt lên trước cả Thích Ca giáo( tức là Phật giáo). Sau đó không bao lâu Chu Vũ Đế lại triệu tập tiến hành cuộc thảo luận. Ông ta cho rằng:” Nho giáo, Đạo giáo xưa nay vẫn được nhân dân cả nước tôn trọng, còn tương lai của Phật giáo thì Trẫm cũng không mấy tin tưởng”. Do đó có một số người chủ yếu là các Sa môn có ý kiến bất đồng, nên Chu Vũ Đế lập tức ra sắc lệnh cử Tư Mã Đại phu tên là Trần Loan nghiên cứu kỹ càng hai tôn giáo là Phật giáo và Đạo giáo, kiểm định rõ mức độ tốt xấu của hai tôn giáo đó, xem cái nào là thật cái nào là giả, để Chu Vũ Đế ra quyết định cuối cùng.

Chẳng bao lâu sau khi Trân Loan nhận chiếu lệnh, ông ta liền viết cuốn “ Tiếu Đạo Luận”, gồm ba quyển, tất cả có 36 điều, luận cứ của chúng rõ rằng tỉ mỉ, lấy nhiều ví dụ điển hình, tiến hành phản đối và công kích Đạo giáo. Trong cuốn “ Tiểu Đạo Luận” trước tiên ông Trân Loan đã phân tích rạch ròi giữa tổ tiên Đạo giáo và các thế hệ sau, ông khẳng định “ Lão Tử” nhưng lại bài xích Đạo giáo. Tiếp theo ông lại đưa ra rất nhiều tư liệu, tiến hành kiểm tra và kiểm nghiệm đối với thuyết “ Lão Tử Hoá Hồ”; đồng thời cũng nêu lên những luận chứng về sự sai lầm của thuyết “ Lão Tử Hoá Hồ”, Tiếp theo ông chỉ rõ, thuyết thiên địa thần tiên của Đạo giáo là một thuyết rất hoang đường, cái pháp thuật uống thuốc thành tiên của Đạo giáo cũng rất nhảm nhí. Cuối cùng ông chỉ rõ, kinh điển của Đạo giáo chỉ là một thứ lăng nhăng bậy bạ. “Tiếu Đạo Luận” của ông Trần Loan là một cuốn sách đứng trên lập trường của Phật giáo tiến hành phân tích và bác bỏ rất rõ ràng tỉ mỉ đối với Đạo giáo, trong đó cũng phản ánh nội dung cốt yếu của việc tranh luận giữa Phật giáo và Đạo giáo ở Bắc Triều. Sau khi cuốn “ Tiếu Đạo Luận” hoàn thành, Chu Vũ Đế lại cho triệu tập cuộc họp giữa bách quan thần liêu cùng các Sa môn, đạo sĩ Đạo giáo để tiến hành thảo luận. Chu Vũ Đế cho rằng chữ “ Luận” ở đây có ý làm tổn hại đến Đạo giáo và đạo sĩ, do đó ông ra lệnh cho mọi người phải tiến hành huỷ ngay không cho phép nó được lưu truyền.

Sau khi cuốn “ Tiếu Đạo Luận” bị thiêu huỷ, một hoà thượng tên là Đạo An(Đạo An thời Bắc Chu, giống tên của Tăng đạo sĩ Đạo An thời Thập lục quốc) cho rằng: Thế tục rất hỗn loạn, sử tịch thì lộn xộn, nhảm nhí, cần phải tiến hành đánh giá xem xét kỹ càng mức độ tốt xấu của ba tôn giáo một lần nữa, do đó ông đã viết cuốn “ Nhị Giáo Luận”. Quyển sách gồm 12 chương, sử dụng đề tài là vấn đáp, người ra câu hỏi xưng tên là cậu bé Dật Tuấn người miền Đông, người trả lời xưng tên là ông Thông Phương của Tây Kinh. Đứng trên lập trường của Phật giáo, quyển sách đó nhằm thẳng vào quan điểm của ba tôn giáo đang thịnh hành lúc bấy giờ, quyển sách đó cũng đưa ra cách đánh giá của riêng mình. Ông ta cho rằng chỉ có Nho Giáo và Thích Ca giáo được coi là những tôn giáo nhằm giáo hoá chúng sinh, Đạo giáo không thể là một đạo độc lập, nó thuộc về Nho Giáo. Nho Giáo được coi như là một ngoại giáo, nó chỉ nhằm cứu vớt thể xác con người, còn Phật giáo được coi như là nội giáo, nó cứu vớt tinh thần con người. Nho Giáo chỉ bàn đến những vấn đề thuộc nội tâm con người, không thể giúp con người thoát khỏi vòng luôn hồi sinh tử, nhưng Phật giáo thuộc về một tôn giáo xuất thế, báo ứng thiện ác, nhân quả luôn hồi v.v…Nó dạy bảo con người hãy thoát khỏi những ràng buộc của thế gian để tìm đến cái chân thực của chính mình. So sánh hai tôn giáo đó, Phật giáo có nhiều ưu điểm hơn Nho Giáo. Ngoài ra cuốn “ Nhị Giáo Luận” còn phê bình cái trò lừa bịp vô căn cứ của Đạo giáo. Đạo An cho rằng, Đạo gia của Lão Tử, Trang Tử chủ trương không ham danh lợi, giảm bớt ham muốn, những điều đó là phù hợp với nguyên tắc của Đạo giáo; Nhưng về sau Đạo giáo lại nói rằng, việc uống thuốc “đan phục” sẽ được thăng thiên thành tiên, đó chỉ là thuyết bậy bạ vô căn cứ.

Cho dù là ông Trần Loan hay ông Đạo An, họ đều bàn luận về quá trình xắp đặt thứ tự của ba tôn giáo của Bắc Chu Vũ Đế, họ đều chĩa mũi nhọn vào Đạo giáo chỉ còn là cách phục tùng. Hoàng Đế rất tôn sùng Nho Giáo, do đó tuy rằng Trân Loan và một số người khác đánh giá thấp Nho Giáo, nhưng họ cũng không dám phủ định một cách triệt để Nho Giáo. Phật giáo thì suy tôn Hoàng Đế là Như Lai, nên họ cũng không giám tôn kính Hoàng Đế. Thêm vào đó, Hoàng Đế đã xắp đặt hai tôn giáo là Nho Giáo và Đạo giáo lên đầu, đặt Phật giáo xuống phía sau; do đó mặc dù chĩa mũi nhọn vào Đạo giáo, nhưng họ không dám bài xích Đạo gia của Lão Tử và Trang Tử. Lập trường và sự biện luận của họ mặc dù chỉ xoay quanh vấn đề là thứ tự của ba tôn giáo này nhưng nó đã biến thành một trận chiến công kích và tiêu diệt lẫn nhau giữa các tông giáo và giáo phái. Nó đã biến chủ đề xắp đặt thứ tự của ba tôn giáo này bắt đầu phát triển theo tính cực đoan.

Vào năm thứ 2 của Kiến Đức ( năm 573 sau Công nguyên) Bắc Chu Vũ Đế Vũ Văn Ung quyết định xắp đặt ba tôn giáo này lần cuối cùng. Ông cho họp quần thần, Sa môn, đạo sĩ…tiến hành thảo luận những điều tốt xấu của Phật giáo và Đạo giáo. Vào năm sau tức là năm 574 sau Công nguyên, Chu Vũ Đế lại ra chiếu lệnh cho các tăng sĩ, đại sĩ, Đạo giáo về họp tụ tại Thiết Luật Trường trong điện Thái Cực tại kinh sư ( Kinh Đô) tiến hành bàn bạc và thảo luận kĩ về Đạo giáo và Phật giáo. Đại diện cho Phật giáo là Sa môn Trí Huyền đã tiến hành tranh luận một cách gay gắt trước mặt Chu Vũ Đế. Theo ghi chép trong sử tịch của Phật giáo, tại cuộc tranh luận đó thì các Sa môn Trí Huyền lại thua đạo sĩ Trương Tân, do đó mà Chu Vũ Đế lập tức che chở và bênh vực Đạo giáo, và ông cũng đã phát biểu nhận xét của mình đối với Phật giáo. Ông ta cho rằng, Phật giáo có “ Tam Bất Tịnh”, cái đó chẳng có lợi gì cho việc giúp nước. Cái gọi là “Tam Bất Tịnh” ở đây có nghĩa là: Một, Chủ giáo bất tịnh, tức là ngài Thích Ca Mâu Ni trước khi xuất gia tu hành thành Phật thì đã cưới vợ và sinh con, là Giáo chủ Phật giáo bất tịnh; Hai là chính tôn giáo đó cũng bất tịnh, tức là trong giới luật được phép ăn ba loại thịt được coi là thanh tịnh, tức là chỉ chúng tăng của Phật giáo hay có những hành động đồng bóng, gây nhiều tội, các tín đồ thì bất hoà, đánh chém lẫn nhau, đây chính là điều bất tịnh của tăng chúng Phật giáo. Từ đó mà Chu Vũ Đế Vũ Văn Ung liền ra quyết định nói rõ rằng: Phật giáo từ giáo chủ, giáo pháp, chúng tăng đều bất tịnh, nay ý Trẫm quyết định gạt bỏ, để dẹp bớt loạn lạc hư ảo. Ở Đạo giáo không có những chuyện đó, nay Trẫm quyết định cho lưu hành để giúp nước giúp dân.

Nhưng chẳng bao lâu sau, Bắc Chu Vũ Đế lại ra chiếu cấm hẳn Phật giáo và Đạo giáo, đồng thời ông cũng bác bỏ ý kiến chỉ bãi bỏ Phật giáo mà giữ lại Đạo giáo. Trong chiếu thư ông cũng yêu cầu các Sa môn Phật giáo, các đạo sĩ Đạo giáo phải hoàn tục, đồng thời ông cũng cấm trò cúng tế mang tính mê tín dị đoan, hoang đường. Ông bắt đem toàn bộ những thứ mà Phật giáo và Đạo giáo cho là Tam bảo, tài phú chia hết cho các hạ thần, đem tất cả các chùa thờ Phật trước đây ban phát cho các Vương công. Ngoài ra, Bắc Chu Vũ Đế còn ra chiếu lệnh lập cái gọi là “ Thông Đạo Quán”. Ông cho chọn quãng 120 người có học vấn tương đối cao từ các lãng tử của Phật giáo và các đạo sĩ của Đạo giáo, gọi nhóm đó là các “ Thông Đạo Quán Học Sĩ”, bắt học phải học tập và nghiên cứu ba bộ là “ Lão Tử”, “Trang Tử”,” Chu Dịch”, để cho họ hiểu rõ ba phái giáo đó, đồng thời lại còn bố trí cho họ những người giúp việc và tuỳ tùng. Năm thứ sáu của Kiến Đức ( năm 577 sau Công nguyên), Bắc Chu diệt Bắc Tề, Chu Vũ Đế đích thân đến thủ đô của Tề là Nghiệp Thành, cho tụ họp toàn bộ tăng chúng của nước Tề, tuyên bố từ bỏ Phật Pháp; đồng thời cho phá hoại tất cả các chùa, các tháp thờ Phật của chính quyền phong kiến cũng như của nhân dân xây dựng từ hơn 100 năm nay trên toàn bộ nước Tề. Đem toàn bộ 4 vạn ngôi chùa, tháp thờ Phật ban tặng cho các Vương công, đại thần làm nhà ở, bắt ba vạn tăng chúng phải hoàn tục, cho về ở nhà dân. Như vậy Phật giáo ở phía Bắc Trung Quốc lại một lần nữa đứng trước nguy cơ bị tấn công.

Lần diệt Pháp này của Bắc Chu Vũ Đế Vũ Văn Ung hoàn toàn không giống với lần diệt Phật Pháp của Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế. Trước tiên, lần này Bắc Chu Vũ Đế đã phế bỏ một lúc hai tôn giáo là Phật giáo và Đạo giáo, không như Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế chỉ có nhằm tiêu diệt Phật giáo. Có một số sử tịch của Phật giáo thì ghi rằng, lần diệt Phật Pháp này của Bắc Chu Vũ Đế là do ông bị xúi dục bởi đạo sĩ Đạo giáo tên là Trương Tân. Sử sách ghi rằng: Trương Tân đã khiến cho Chu Vũ Đế tin tưởng rằng, màu đen là điềm hung, màu vàng là điềm tốt. Đồng thời Trương Tân cũng xem bói cho Chu Vũ Đế và đoán rằng, sau này kẻ diệt nhà Chu sẽ là một người mặc áo đen. Vì các tăng lữ Phật giáo lúc bấy giờ đều mặc áo đen, do đó mà Chu Vũ Đế mới quyết tâm diệt Phật Pháp. Điều kết luận trên đây cũng không hoàn toàn đúng đắn. 

Nếu như Chu Vũ Đế chỉ bị Trương Tân xúi giục, thì tại sao ông ta lại diệt cả Đạo giáo lẫn Phật giáo? Nguyên nhân trực tiếp của việc ông ta cùng một lúc bãi bỏ Phật giáo và Đạo giáo là vì sự xung đột gay gắt, không thể khoan nhượng, không thể dàn hoà giữa hai tôn giáo này. Điều đó sẽ làm yếu đi xu thế của tư tưởng thống trị thế tục lúc bấy giờ, đó mới là điều khiến cho Chu Vũ Đế quyết tâm tiêu diệt Phật Pháp. Thứ hai, lần diệt pháp này của Chu Vũ Đế, tuy ông ta đã phá hoại một số lượng lớn chùa, đã cho thiêu huỷ rất nhiều kinh Phật, nhưng ông ta không hề sát hại Sa môn, đạo sĩ, Đạo giáo, mà chỉ bắt họ hoàn tục làm dân thường, việc làm này hoàn toàn không giống như việc Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế đã cho hạ sát hàng loạt Sa môn. Tiếp theo lần này diệt Phật Pháp của Chu Vũ Đế tuy rằng ông ta đồng thời tiêu diệt cả Phật giáo lẫn Đạo giáo, nhưng ông ta lại cho lập “ Thông Đạo Quán”, cho nuôi dưỡng một số Sa môn Phật giáo và đạo sĩ Đạo giáo để cho họ hiểu rõ Nho Giáo, Thích Ca giáo và Đạo giáo. Đương nhiên chính thống ở trong vẫn là Nho Giáo. Từ đó có thể thấy rằng lần diệt pháp này của Bắc Chu Vũ Đế nếu xét từ góc độ quá trình lịch sử, thì nó trải qua một thời gian chuẩn bị tương đối dài. 

Trong nhiều năm liền ông đã cho liên tiếp triệu họp hội nghị trù bị có quy mô lớn, ở đây ông cho mọi người được thoải mái tranh luận; Từ xuất phát điểm đó ta có thể thấy, động cơ ban đầu của Bắc Chu Vũ Đế chỉ là muốn sắp xếp thứ tự của ba tôn giáo, nhưng do Phật giáo và Đạo giáo tranh chấp với nhau kịch liệt, ngươi sống thì ta chết từ đó mới dẫn đến bi kịch trong lịch sử là ông cho diệt Phật Pháp; Xét từ kq của việc diệt pháp, Bắc Chu Vũ Đế không hề có ý tiêu diệt tận gốc rễ Phật giáo. Do đó lần diệt Phật Pháp này của Bắc Chu Vũ Đế là tương đối thận trọng hơn so với lần diệt Phật Pháp của Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế.

Xét từ góc độ sâu xa hơn, Bắc Vũ Đế tuy có chịu ảnh hưởng không nhỏ của các ông Vệ Nguyên Tung, Trương Tân nhưng ông đã là Chúa của một nước, để xây dựng đại nghiệp thống nhất, ông ta cần phải coi Nho Giáo là chính thống. Tư tưởng Nho Gia không những giúp cho các Đế Vương phong kiến xây dựng nền tảng thống trị, mà nó còn là công cụ đắc lực bảo vệ đẳng cấp và trật tự phong kiến. Vũ Văn Ung xuất thân là người dân tộc thiểu số Tiên Ti, ông ta đã từng coi việc thống nhất thiên hạ là nhiệm vụ của mình, không tự coi mình là người hồ ( tức người miền Tây), mà coi mình là một trong những thành viên của dân tộc Hoa Hạ( tức là dân Trung Hoa). Như vậy ông ta sẽ thấy rằng, cần phải đặt tư tưởng Nho Gia làm chính thống. Theo cách đánh gia truyền thống, Phật giáo được coi như là một tôn giáo của những kẻ mọi rợ. Đạo giáo tuy là một tôn giáo sinh ra và phát triển trên đất Trung Hoa, nhưng nó cũng gây trở ngại cho nền chính trị phong kiến, do đó cả hai tôn giáo này đều bị phế bỏ. Cùng thời gian này, là một Đế Vương của nền thống trị phong kiến, Chu Vũ Đế cảm thấy việc tự do xây dựng tràn lan của các chùa thờ Phật đã làm hao tiền tốn của, vì vậy mà phế bỏ Phật giáo cũng có nghĩa là có lợi cho việc làm giàu đất nước và làm cho binh lực hùng mạnh. Ông ta đã từng nói rằng:” Phật giáo có kính trọng cũng chẳng trinh phục được ai, không

 thu hút được cảm tình của người, tự cứu mình cũng không xong, vậy thì làm sao mà có lợi cho đất nước? Từ khi phế bỏ Phật giáo cho đến nay, sai dịch trong nhân dân đã mạnh mẽ hơn, tô điều hàng năm đều được tăng, quân sự ngày càng hùng mạnh, do đó đất nước được bình an, phát triển nhộn nhịp và nhân dân được an lạc”. Trên thực tế sau khi Chu Vũ Đế tiêu diệt Phật giáo, một số lượng lớn tăng ni hoàn tục trở về làm dân thường hoặc là làm ruộng, từ đó mà giảm gánh nặng thuế khoá cho nhân dân, số lượng binh lính cũng tăng thêm, điều đó đã đặt ra một cơ sở vững chắc để cho Chu Vũ Đế diệt nhà Tề. Do đó, sau khi diệt nhà Tề, Chu Vũ Đế tiếp tục cho thi hành chính sách tiêu diệt Phật pháp. 

Điều hiển nhiên là, Chu Vũ Đế tiêu diệt Phật pháp theo một sách lược cơ bản là nhằm cho đất nước cường thịnh, quân đội hùng mạnh. Ngoài ra Chu Vũ Đế còn chủ trương hoà hợp ( tức là sát nhập) cả ba tôn giáo để giúp ích cho việc trị quốc an dân. Tuy ông ta coi Nho gia là chính thống, nhưng đồng thời cũng cho rằng, đối với việc bảo vệ nền thống trị của giai cấp phong kiến, thì Phật giáo, Đạo giáo cũng rất có tác dụng; nhất là nghĩa lý của Nho gia và Thích Ca Giáo tương đối gần nhau, người xuất gia hay là người tại gia đều là vì cai quản thiên hạ, đều là muốn quốc gia được hùng mạnh, nhân dân an lạc. Do đó, Chu Vũ Đế đã từng đặc biệt nhấn mạnh rằng, trong một xã hội phải có Hoàng Đế là người đứng đầu, cũng cần phải coi Hoàng Đế là chủ chủ của thế giới giống như bên kia mọi người tín phụng Như Lai.

Lần phế bỏ Phật pháp lần này của Bắc Chu Vũ Đế, về mặt khách quan thì đây là một sự tổng kết mang tính lịch sử từ mối xung đột gay gắt giữa tín ngưỡng Phật giáo và nền tư tưởng văn hoá truyền thống trong xã hội phương Bắc trong sau khi Phật giáo được du nhập vào Trung Quốc. Trong quá trình chuẩn bị loại bỏ Phật pháp thì cũng đã có mấy lần tranh luận ở quy mô tương đối lớn. Tất cả các vấn đề đề cập đến đã khiến cho các bên tham gia tranh luận, đặc biệt là phía bên Phật giáo nhận thức một cách sâu sắc rằng, chỉ khi nào Phật giáo phải thích ứng với bối cảnh của tư tưởng văn hoá truyền thống của Trung Quốc, thì lúc đó Phật giáo mới có sự phát triển liên tục của bản thân mình. Đồng thời qua việc diệt Phật pháp lần này thì một số tăng sĩ đầy lòng quyết tâm tu hành theo Phật pháp, hoặc là phải sống trà trộn trong nhân dân, hoặc là phải ẩn náu trong rừng sâu, trong đó một số tăng sĩ phải vượt sông xuống phía Nam, về mặt khách quan việc này lại thúc đẩy mối giao lưu giữa Phật giáo phía Bắc và phía Nam.

Vào đầu năm của Bắc Chu Tuyên Chính ( năm 578 sau Công nguyên ) Vũ Đế Vũ Văn Ung qua đời Tuyên Vũ Đế Vũ Văn Vân kế vị. Tháng giêng năm sau, Vân Đế ra chiếu lệnh mời bảy người trong các sa môn cũ về tu đạo ở điện Chính Vũ phía Tây. Vào tháng hai, Văn Đế truyền ngôi cho Tĩnh Đế Vũ Văn xiển, Vũ Văn Xiển lúc đó mới bảy tuổi, tự xưng là Thiên Nguyên Hoàng Đế. Vừa mới lên ngôi, Tĩnh Đế liền ra sắc lệnh cho phép trăm họ được tín thờ Phật, về sau lại ra lệnh cho phép những người tu hành không cần phải xuống tóc cạo râu, ra chiếu lệnh cho 120 người được phép tu đạo cho đất nước tại chùa Trắc Hộ; lại ra chiếu lệnh hồi phục lại việc đúc tượng Phật và các bức tượng Thiên Tôn của Đạo giáo. Năm thứ hai của Đại Tượng ( năm 580 sau Công nguyên), Tĩnh Đế chết yểu, triều chính do Dương Kiên nắm quyền điều hành ( Dương Kiên là bố vợ cả của Tuyên Đế, bà vợ cả này tên là Dương Thị, tức Thiên Nguyên Đại Hoàng Hậu). Dương Kiên hạ lệnh hồi phục lại Phật giáo và Đạo giáo, các sa môn, các đạo sĩ Đạo giáo cũ nếu còn mong muốn vẫn có thể gia nhập đạo. Từ đó trở đi Phật giáo được chính thức hồi phục. Vào năm sau Dương Kiên phế nhà Chu Lập lên nhà Tuỳ, sự phát triển của Phật giáo cũng bước vào một thời kỳ mới.

Vương Chi Bình




Có phản hồi đến “7. Lương Vũ Đế Bỏ Đạo Theo Phật”

Câu hỏi ngẫu nhiên:    =  (Nhập số)  

Tags

Những bài viết nên xem:

 
 
 

Trang nhà không giữ bản quyền. Mọi hình thức sao chép đều được hoan nghênh.

Thư từ, bài vở đóng góp xin gửi về email:linhsonphatgiaocom@gmail.com