Đây là một phần truyền thuyết Phật giáo du nhập vào Trung Quốc. Năm 76 sau công nguyên đúng vào thời kỳ trị vì của Đông Hán Minh Đế. Một đêm, Hán Minh Đế mơ thấy một vị thần cao hai trượng, toàn thân phủ một lớp vàng lóng lánh, trên đầu đội một vòng vàng lấp lánh, người mềm mại yểu điệu thướt tha. Ngài bay đến trước đại diện trong Vương Cung. Thấy vị thần này, Hán Minh Đế vô cùng vui vể. Lập tức ngài tỉnh dậy, ngài cảm thấy ngơ ngác và tiếc rẻ mãi. Ngày hôm sau ngài lại mơ thấy vị thần này, lập tức ngài đi hỏi quần thần:” vị thần này sống ở phương trời nào?”lúc đó có một vị tên là Sát Âm, là một người học sâu hiểu biết rộng, ông ta liền trả lời rằng :” con nghe nói ở nước Thiên Trúc phương Tây (Tức Ấn Độ cổ đại) có một vị đắc đạo, được mọi người tôn xưng là Phật, ngài có thể bay một cách nhẹ nhàng. Người mà bệ hạ mơ thấy chính là vị thần này”. 

Sau khi nghe nói vậy, Hán Minh Đế liền như mở cờ trong bụng, trí tuệ như được mở mang thêm. Lập tức ngài sai một sứ giả tên là Trương Khiên cùng quan Vũ Lâm trung lang tướng đem 12 người gồm Tần Cảnh cùng tiến sĩ đệ tử Vương Tôn đến ngay Tây Phương cầu Phật pháp. Tuyên truyền rằng trên chặng đường đi Tây Phương, đoàn người này đã đi qua 36 nước đến được Đại Nguyệt Thị (ngày nay nằm trong vùng lưu vực sông A –Ma ở vùng Trung Á) và gặp hai vị Tăng sĩ người Tây phương ở đó, một người tên là Ca Diếp Ma Đằng, một người tên là Trúc Pháp Lan. Sứ giả Trương Khiên cùng những người cùng đi mời hai vị Tăng sĩ này ở lại cùng với họ chép một số kinh Phật, sau đó con ngựa trắng thồ họ cùng nhau trở về đất Hán.

Sau khi cùng sử giả Trương Khiên và những người cùng đi trở về nước Hán, hai tăng sĩ người Hồ (ý chỉ những người sống ở phía Tây Trung Quốc) được Hán Minh Đế đón tiếp rất nồng hậu. Theo sự chỉ dẫn của hai tăng sĩ người Hồ, Hán Minh Đế ra lệnh cho các Hoạ sĩ trong cung vẽ ngay bức hoạ của Thích Ca Mâu Ni. Bức tranh tượng vẽ giống hệt vị thần mà Hán Minh Đế đã mơ thấy, không khác một chút nào. Thế là Hán Minh Đế đã gia lệnh cho các hoạ sĩ trong cung vẽ thêm nhiều bức tranh tượng đó nữa, treo ở khắp các cung điện để thuận tiện cho việc thờ cúng. Sau đó Hán Minh Đế lại yêu cầu hai Tăng sĩ người Hồ tên là Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan dịch những cuốn kinh mà họ đã mang về ra tiếng Hán. Để tạo thuận lợi cho việc dịch kinh, Hán Minh Đế cho cất lên một ngôi chùa thờ Phật ở ngoại thành Tây Ung Môn ở vùng Lạc Dương, mời hai tăng sĩ người Hồ về đó tu hành, chuyên môn dịch kinh. Do bộ kinh đó được con ngựa trắng chuyên trở về, do đó người ta đặt tên ngôi chùa hai vị tăng tu hành người Hồ tu hành là Bạch Mã.

Ngài Ca Diếp Ma Đằng và ngài Trúc Pháp Lan đều là người miền trung Ấn Độ, trước khi hai vị đến Trung Quốc, Phật giáo ở Ấn Độ đã chia thành hai môn phái đại thừa và tiểu thừa. Cái gọi là “ thừa: ở đây có nghĩa là “ cỗ xe chuyên trở”. Phật giáo cho rằng con người đang sống trong biển khổ nên cần có một công cụ chuyên chở mới vượt qua được biển khổ này, tìm đến sự giải thoát. Đại thừa hay tiểu thừa chỉ là cách nói mang tính chất hình tượng, Đại thừa có ý nghĩa là cỗ xe chuyên chở lớn, Tiểu thừa có ý nghĩa là chuyến xe chuyên chở nhỏ. Phật giáo đại thừa là một môn phái mà Phật giáo ở Ấn Độ đã phát triển tới mức nào đó rồi nó mới xuất hiện. Để phân biệt Phật giáo phát triển với Phật giáo nguyên thuỷ, họ gọi Phật giáo phát triển là Đại Thừa, gọi Phật giáo truyền thống ( nguyên thuỷ) là Tiểu Thừa. Ngoài sự bất đồng giữa cách đánh giá về Thích Ca Mâu Ni và một số lý giải về các giáo nghĩa cơ bản của Phật giáo ra thì sự khác biệt chủ yếu của Phật giáo Đại thừa và Phật giáo tiểu thừa là sự khác nhau về phương pháp tu hành truyền thống của tôn giáo cổ điển ở Ấn Độ, tức là coi trọng sự tu hành của chính bản thân mình, còn Phật giáo Đại thừa về mặt tu hành thì lại coi trọng trí tuệ phát ra của người tu hành ( Phật giáo gọi trí tuệ là Bát Nhã), chủ chương đồng thời coi việc tu hành của cá nhân con người và sự toả sáng của trí tuệ. Tiểu thừa cho rằng, con người chỉ có thể tự hoại thân, tự diệt trí tuệ để tự mình vượt qua biển khổ. 

Còn đại thừa lại yêu cầu phải dùng đại từ đại bi để phổ độ chúng sinh. Tiểu thừa cho rằng kết quả tu hành cao nhất của cá nhân con người không thể đạt được bậc mà đức Thích Ca Mâu Ni lúc đầu tu hành đã đạt được, tức là kết quả tu hành của con người không thể trở thành Phật, mà chỉ có thể tu hành để trở thành chân tâm của La Hán, tức là thấp hơn Phật hai bậc; nhưng Đại Thừa thì cho rằng, sự tu hành của cá nhân con người không chỉ trở thành La Hán, mà có thể trở thành một vị Bồ Tát tức là ở một bậc cao hơn La Hán, hoặc có thể tu lên một bậc cao hơn thế nữa, tức là tu thành Phật. Tương Truyền rằng ngài Ca Diếp Ma Đằng và ngài Trúc Pháp Lan đều thông hiểu kinh của Phật giáo tiểu thừa và Đại thừa, sau khi hai ngài đến Trung Hoa không được bao lâu, các ngài liền lập tức tụng kinh Phật đã dịch ra tiếng Hán, Ngài Ca Diếp Ma Đằng đã dịch ra” Tứ Thập Nhị Trương Kinh” ( bộ kinh 42 chương). Ngài Trúc Pháp Lan dịch ra 5 bộ kinh điển như “ Thập Địa Đoạn Kết”, “ Phật Bản Sinh”,” Pháp Hải Tạng”, “ Tứ Thập Nhị Chương”.

Trên lịch sử, không ít người, kể cả các Phật tử đều cho rằng vào một đêm nọ vua Minh Đế mơ thấy vị thần và sai người đến đó để cầu pháp, đó chính là điểm mở đầu của Phật giáo truyền vào Trung Quốc, Ngôi chùa Bạch Mã ở Lạc Dương là ngôi chùa thờ Phật đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan là hai vị tăng sĩ Tây phương đầu tiên đến Trung Hoa truyền pháp, Kinh Tứ Thập Nhị Chương là bộ kinh Phật bằng chữ Hán đầu tiên của Trung Quốc.

Trên thực tế vấn đề Phật giáo du nhập vào Trung Quốc vào thời gian nào thì trong lịch sử có rất nhiều truyền thuyết. Đời đường có một vị Hoà thượng tên là Đạo Tuyên đã xây dựng nên một truyền thuyết là: Hiên Viên Hoàng Đế đã từng đến nước Tư Hoa ở Tây Phương, nước Hoa Tư chính là Thiên Trúc, khi được gặp Hoàng Đế thì lúc đó Phật giáo đã được du nhập vào Trung Quốc rồi. Thời Tây Tấn có một vị đạo sĩ tên là Vương Phù đã viết ra quyển “ Kinh Lão Tử hoá hồ”, nói rằng Lão Tử vào thời Chu Vương đã từng vượt qua sa mạc phía Tây vào đến Ấn Độ rồi hoá phép ra Thích Ca Mâu Ni, Thích Ca Mâu Ni chính là đệ tử của Lão Tử, chính nhờ Lão Tử hoá phép do đó Thích Ca Mâu Ni mới lập nên Đạo Phật. Đây chính là chuyện bịa đặt của Đạo giáo nhằm bôi nhọ Phật giáo; nhưng về sau mtj số Phật tử lại lấy đó làm tiền đề. Họ nêu rõ vì Lão Tử đã di chuyển sang phiá Tây vào thời Chu Vương, do đó thấy rõ Phật giáo ra đời vào thời nhà Chu , đồng thời trong thời gian đó Phật giáo cũng du nhập vào Trung Quốc. 

Về sau đó một số Phật Tử truy tìm tài liệu và chỉ rõ, thời khổng tử đã có Phật giáo, thời Tần Thuỷ Hoàng trị vì đã có những vị Tăng từ phương Tây đến Trung Hoa. Thời Lương Vũ Đế trị vì, Phật giáo cũng được truyền vào Trung Quốc...các truyền thuyết này đều không có căn cứ hoặc rất thiếu căn cứ. Do đó sự xuất hiện những chuyện ly kỳ cổ quái của những chuyện hoàn toàn bịa đặt là do sự đấu tranh gay gắt của Đạo giáo và Phật giáo. Sau thời Nguỵ Tấn, cả hai bên đều đề cao chính mình, họ tìm cách làm nhục hoặc hạ thấp đối phương. Cả hai bên đã dựng lên những truyền thuyết nói rằng tôn giáo của mình ra đời trước. Trong đó Phật giáo cũng muốn chứng tỏ mình du nhập vào Trung Quốc trước khi các đạo kia ra đời, nên tất cả đều muốn nói rằng đạo của mình từ sớm đã được sự tôn sùng của các Đế Vương.

“ Hán Minh Đế đêm mộng thần nhân” sau đó cử người đi cầu Pháp, từ đó Đạo Phật truyền vào Trung Quốc, điều này là một sự thật lịch sử nhưng chắc chắn cũng có một phần là hư cấu. Sau sự kiện “Hán Minh Đế đêm mộng thần nhân”, cử người đi cầu pháp, có một số tài liệu văn chương nói rằng , vị sứ giả tên là Trương Khiên, nhưng có một số tài liệu văn chương cũng nói rằng, vị sứ giả tên là Sát Âm; còn về hai vị Tăng sĩ người Tây Phương tên là Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan, có những tài liệu văn chương chỉ ghi có một tên ngài Ca Diếp Ma Đằng ( hoặc là Nhiếp Ma Đằng), có những tài liệu văn chương ghi cả hai người. Có tài liệu văn chương thì nói rằng ngài Ca Diếp Ma Đằng đến Trung Hoa trước, Ngài Trúc Pháp Lan đến sau, nhưng cũng có tài liệu văn chương nói rằng cả hai tăng sĩ người Tây phương này cùng quay trở về Hán triều với sứ giả...nếu như cắt bỏ thành phần hư cấu, chỉ xét chi tiết cơ bản nhất là “ Hán Minh Đế đêm mộng thần nhân”, thì đó là chi tiết có thể tin được, nó cho ta thấy Phật giáo du nhập vào Trung Quốc vào thời gian này ( tức vào thời kỳ Lưỡng Hán).

Phật giáo du nhập vào Trung Quốc vào thời kỳ Lưỡng Hán, có mối liên hệ mật thiết với Tây Hán Vũ Đế, mở ra con đường tơ lụa với Tây Vực. Vào thời kỳ đầu Tây hán, để hợp sức với lực lượng dân Đại Nguyệt Thị vốn đã có mối thù lâu đời với Hung Nô để chống Hung nô thì vào năm Kiện Nguyên thứ ba ( năm 138 trước Công Nguyên), Hán Vũ Đế liền cử Trương Khiên và một số người khác sang làm đại sứ ở Đại Nguyệt Thị. Trải qua hơn mười năm sống ở Đại Nguyệt Thị, sau khi trở về Hán Triều, Trương Khiên và những người đi cùng lại báo lại với Hán Vũ Đế tất cả những gì tai nghe mắt thấy ở các địa phương phía Tây, từ đó mở mang tầm mắt cho Hoàng Đế Hán thêm rất nhiều. Sau này trong quá trình đấu tranh với Hung Nô, Hán Vũ Đế lại một lần nữa cử Trương Khiên và những người đi đến làm đại sứ tại miền Tây, từ đó đã thiết lập con đường giao lưu giữa Trung Quốc và miền Tây, sau này chính là con đường tơ lụa nổi tiếng thế giới. Con đường tơ lụa được mở ra, đúng lúc Ca Nhị Sắc Vương của đế quốc Quý Sương ở vùng Tây Bắc Ấn Độ đang cho hoằng pháp Phát triển Phật giáo. con đường tơ lụa được mở ra cũng là lúc mở ra mối giao lưu kinh tế và văn hoá giữa Trung Quốc và nước ngoài. Đúng trong quá trình giao lưu kinh tế giữa văn hoá Trung Quốc với nước ngoài, Phật giáo được truyền bá từ Ấn Độ vào các nước khác từ Tây Bắc; đồng thời dần dần vượt qua Tây Lĩnh ( Pa-mia ngày nay) rồi được du nhập vào vùng Tây Bắc Trung Quốc, sau đó dần dần được truyền bá khắp nội địa Trung Quốc.

Do con đường tơ lụa đã nối liền miền Tây với nội địa Trung Quốc và do có mối giao lưu qua lại giữa các tăng sĩ người miền Tây và người Hán trong nội địa của Trung Quốc được kéo dài liên tục cho đến thời kỳ Lưỡng Hán, nên trong các sách sử có liên quan, tức là vào thời kỳ Lưỡng Hán ở trong nội địa Trung Quốc cũng có những ghi chép về Phật giáo. Năm đầu thời Nguyên Thọ Ái Đế thời Tây Hán ( Năm thứ hai trước Công nguyên) hồi đó có đệ tử tiến sỹ Cảnh Lô trong quá trình giao lưu với người Hồ ở miền Tây, trong số những vị sứ giả của Đại Nguyệt Thị Vương đã có người dạy truyền miệng cho ông ta “ kinh Phù Đồ” ( phù đồ tức là phiên âm của Phật Đà. Phật Đà chính là Thích Ca Mâu Ni). 

Những năm đầu thời kỳ Đông Hán, trong số những người nắm quyền cao chức trọng của tập đoàn thống trị cũng có người đã biết đến Phật giáo, một số vị quý tộc của Hoàng Thất, cũng đã bắt đầu tin và tôn thờ Phật. Em cùng cha khác mẹ với Đông Hán Minh Đế là Sở Vương Lưu Anh đã song song thờ Phật với Hoàng Lão, đồng thời trong hoàng cung xây một ngôi chùa thờ Phật riêng. Thấy vậy Hán Minh Đế liền quở trách:” Sở Vương Lưu Anh đọc xong Từ của Hoàng Lão lại tôn sùng Phật giáo, thề cùng ăn chay với các vị thần trong ba tháng, cách làm này cần phải kiểm thảo, không nên tiếp tục như vậy nữa!” Điều này đã chứng tỏ là Đông Hán Minh Đế đêm mộng thần nhân, điều đó không phải là sự nhận thức về tâm lý một cách ngẫu nhiên, mà là sự phản ánh của hiện thực lịch sử rằng hồi đó Phật giáo đã bắt đầu lưu hành trong nội địa Trung Quốc.

Vào thời Đông Minh Hán Đế có một số danh từ được phiên âm chuyên môn theo Phật giáo đã được ghi vào trong sách sử. Ngoài từ “ Phù đồ” đã nêu ở trên ra, còn có các từ “ Y Bồ Tắc” ( tức Ưu Bà Tắc, chỉ các nam giới học Phật không xuất gia, tức các nam cư sĩ),” Tang môn” ( tức là Sa môn, chỉ nam giới xuất gia tu theo Phật, thông thường được gọi là các vị sư),” Tỳ kheo”( ý chỉ các sa môn)...Hồi đó các vị như Y Bồ Tắc, Tang Môn, Tỳ kheo, ngoài hai vị Tang sĩ người Hồ phía Tây như Ca Diếp Ma Đăng và Trúc Pháp Lan đã từng đến Trung Hoa thì số còn lại không ai là người Hán trong nội địa Trung Quốc, điều này cần phải xem xét lại. Hoặc ít nhất cũng phải nói rằng, họ hoàn toàn không phải là những người Hồ ở miền Tây.

“ Hán Minh Đế đêm mộng thần nhân” rồi cử người đi cầu pháp, về việc này sau được rất nhiều tư liệu lịch sử ghi chép lại. Càng những ghi chép về sau thì các tình tiết càng rõ ràng, và những người ghi chép về sau đưa ra những nhận định chủ quan của mình vào trong đó, việc đó khiến cho sự kiện lịch sử “ Hán Minh Đế Vĩnh Bình cầu pháp” càng ngày càng trở lên ly kì. Quãng giữa thời Bắc Nguỵ, một số Phật tử còn bịa đặt và viết lên quyển sách mang tên” Hán Pháp Bản Nội Truyền”. Bộ sách này có năm quyển, trong đó viết rất tỉ mỉ, chi tiết như: giấc mơ của Hán Minh Đế; cho người đi cầu pháp; tăng người Hồ đến Trung Hoa; sự va chạm giữa Thích Ca Giáo và Đạo Giáo, xây chùa để Hoằng pháp...trong đó họ đã ghi lại chi tiết sự kiện vào năm Vĩnh Bình thứ 14 ( năm công nguyên thứ 71) có năm vị Đạo sĩ tên tuổi lừng lẫy xin vào bái kiến Hán Minh Đế, xin được thi pháp thuật với các Sa môn Phật giáo. 

Sau khi được Minh Đế phê chuẩn, hai bên liền tiến hành một cuộc thi pháp thuật vô cùng tinh vi và huyền ảo. Trong cuộc thi đó, Đạo sỹ muốn lấy Kinh Đạo giáo để diệt lửa, nhưng mà không diệt được, nhưng khi lấy lửa đốt kinh, kinh Đạo giáo liền biến thành tro bụi, điều đó làm cho Đạo sĩ ở vùng núi phía Nam( Nam nhạc) bị cụt hứng liền chết ngất ngay tại chỗ; Còn Sa Môn Nhiếp Ma Đằng ( Ca Diếp Ma Đằng) đại diện cho Phật giáo, lập tức nhảy vọt lên trên cao nằm trên không trung, hoá phép làm cho hoa báu ở trên trời toả ra như một chiếc ô Thái dương rơi lên đầu các Tăng sĩ Phật giáo, đồng thời lại làm cho từ trên trời phát ra những tiếng nhạc rất vui tai. Một vị Sa môn khác là Trúc Pháp Lan thì cố gắng giảng công đức của Phật giáo khiến cho rất nhiều phàm phu tục tử đều muốn xuất gia qui y Phật. Một số Đạo sĩ của Đạo giáo lập tức cùng nhau tỏ ý muốn từ bỏ đạo giáo để qui y Phật, Kết quả cuộc thi này là: Phật giáo đã thu được thắng lợi. Câu chuyện trên đây có vẻ như là hoang đường, nhưng ta không vội bàn đến các chi tiết thần bí của nó mà chỉ bàn đến sự kiện thi đấu giữa Đạo Phật và Đạo Giáo. ta thấy rằng vào đầu thời kỳ Đông Hán, Đạo giáo về căn bản vẫn chưa hình thành, vì vậy lấy đâu ra Đạo sĩ? Càng khó mà khẳng định có chuyện các đạo sĩ của Đạo giáo từ bỏ Đạo giáo để qui y Phật.

Song cho dù thế nào đi chăng nữa, chùa Bạch Mã ở Lạc Dương quả thực cũng đã khẳng định rằng: nó là ngôi chùa đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Nó nằm dưới chân núi Bắc Manh, phía bên Lạc Thuỷ, nhìn xuống vùng trung nguyên rộng lớn, chuông sớm trống chiều đã đuổi đi hàng nghìn cái nóng cái lạnh. Còn về nguồn gốc cái tên ngôi chùa Bạch Mã, một tài liệu văn chương khác nói rằng: có một vị Quốc Vương nước ngoài, ông ta đã nhiều lần phá hại chùa thờ Phật. Hồi đó có một ngôi chùa thờ Phật tên là Chiêu Đề, đang ở trong tình trạng sắp bị phá bỏ thì một đêm bỗng có một con ngựa trắng chạy vòng xung quanh ngôi chùa đó và hí vang lên. Quốc vương đó sau khi nghe thấy vậy phát tâm từ bi, ra lệnh chấm dứt phá hại ngôi chùa, đồng thời đổi tên ngôi chùa đó thành chùa Bạch Mã. Từ đó trở đi, mỗi khi ông ta cho xây dựng chùa thờ Phật, Quốc Vương đó đều đặt tên chùa là Bạch Mã.

Lại có truyền thuyết nói rằng, sau khi cử người đi cầu pháp lấy kinh. Hán Minh Đế liền cho xây dựng một ngôi chùa thờ Phật, lúc đầu ngôi chùa đó lấy tên là Chiêu đế. Về sau có một Đế Vương muốn phá hoại ngôi chùa đó nhưng một hôm vị đế vương đó mơ thấy một con ngựa trắng bay xung quanh chùa đó hí vang, ông ta liền từ bỏ ý định phá ngôi chùa đó, đồng thời đổi tên ngôi chùa Chiêu Đề thành Bạch Mã. Lại có một truyền thuyết khác nói rằng, khi xây dựng ngôi chùa này, một hôm Minh Đế mơ thấy con ngựa trắng hí vang liền đặt tên cho ngôi chùa mới xây dựng là Bạch Mã. trong những truyền thuyết trên đây mỗi truyền thuyết đều có một căn cứ, bởi vì ở Trung Quốc cổ đại và Ấn Độ cổ đại đều có rất nhiều ngôi chùa thờ Phật có tên là Bạch Mã. Chùa Bạch Mã sau khi xây dựng vào thời kỳ Lưỡng Hán, trong thời kỳ Đông Hán Tam Quốc, thời kỳ Nguỵ Tấn Nam Bắc Triều nó là trung tâm dịch kinh chính của Phật giáo miền Bắc Trung Quốc, rất nhiều tăng sĩ người Hồ( tăng sĩ miền Tây) sau khi đến Trung Hoa thường đến đây dịch kinh. Vào thời kỳ Tuỳ Đường, qui mô ngôi chùa Bạch Mã được mở rộng hơn trước rất nhiều; Võ Tắc Thiên cũng được coi ngôi chùa này là một trong những ngôi chùa của cung đình. 

Trải qua hơn một nghìn năm sau, sau nhiều lần chiến tranh bạo loạn, ngôi chùa Bạch Mã tuy đã trải qua nhiều lần thịnh suy, nhưng nó vẫn được bảo tồn đến bây giờ. Vì vậy bộ kinh “ Tứ Thập Nhị Chương” mà Thích Ca Ma Đằng đã từng dịch cũng có thể coi là bộ kinh Phật bằng chữ Hán đầu tiên của Trung Quốc. Bản đầu tiên của bộ kinh này( bản gốc) cũng đã bị thất lạc với bộ kinh Phật gồm năm bộ mà ngài Trúc Pháp Lan đã dịch ra.Bộ kinh “ Tứ Thập Nhị Chương” còn lưu lại đến tận bây giờ là bộ kinh do các tăng sĩ người Hồ chép lại bản từ hồi Tam Quốc, chắc chắn nó cũng sẽ có một phần khác so với bản gốc, nhưng về cơ bản nó cũng là nguyên bản. Quyển kinh này có khoảng hơn hai nghìn chữ, nội dung chủ yếu nói rõ giáo lý cơ bản của Phật giáo, nó vừa có nội dung tư tưởng của Phật giáo Tiểu thừa, vừa có nội dung tư tưởng của Phật giáo Đại thừa. Tuy nội dung của nó đã được rút gọn, nhưng lý lẽ của nó rất rõ ràng, có hệ thống, có thể coi đó là nguyên bản của bộ kinh từ Ấn Độ cổ đại.

Nói tóm lại, xét từ những chi tiết sự thực của lịch sử, có thể nói rằng Hán Minh Đế là một vị Đế Vương phong kiến đầu tiên của Trung Quốc tiếp xúc với Phật giáo. Ngài cử người đi cầu pháp cố gắng mau chóng mang Phật giáo truyền vào Trung Quốc. Đồng thời hành động cầu pháp của ngài, về mặt lịch sử coi như thừa nhận một tôn giáo khác - Phật giáo - được du nhập và lưu truyền vào Trung Quốc. Hồi đó đây là một hành động “ long trời lở đất” chưa từng có. Khảo sát lịch sử phát triển của Phật giáo ở trung Quốc cổ đại, thảo luận và xem xét kỹ mối quan hệ giữa các Đế Vương thời phong kiến với Phật giáo thì việc” Hán Minh Đế đêm mộng thần nhân” rồi cử người đi cầu pháp quả thật là điểm mở đầu rất đúng đắn, rất đáng tin cậy.

Vương Chí Bình




Có phản hồi đến “Phần 1: Hán Minh Đế Đêm Mộng Thần Nhân - Lưỡng Hồ Tăng Ngày Dong Ngựa Trắng”

Câu hỏi ngẫu nhiên:    =  (Nhập số)  

Tags

Những bài viết nên xem:

 
 
 

Trang nhà không giữ bản quyền. Mọi hình thức sao chép đều được hoan nghênh.

Thư từ, bài vở đóng góp xin gửi về email:linhsonphatgiaocom@gmail.com