Phật và Lão cùng tranh dành sùng ái
Thác bạt thọ cứu Phật Pháp lúc nguy nan

Sau trận Phì Thuỷ, chính quyền Tiền Tần ở phương Bắc bị sụp đổ hoàn toàn. Các dân tộc sống dưới chế độ thống trị của nhà Tiền Tần nhân cơ hội này tranh nhau nổi lên dành độc lập, trong đó có một thủ lĩnh người dân tộc Tiên Ti tên là Thác Bạt Khuê đã họp hội nghị toàn thể dân tộc Tiên Ti vào năm 386 sau Công nguyên ở vùng Ngưu Xuyên ( ngày nay ở vùng phụ cận của Hô Hoà Hạo Đặc vùng Nội Mông) xưng làm Đại Vương, thành lập đại chính quyền riêng: sau đó không lâu, Thác Bạt Khuê lại rời đô về Thịnh Lạc ( ngày nay là vùng Hoà Lâm Cách Nhĩ của Nội Mông) đổi tên thành Nguỵ Vương. Về mặt lịch sử, chính quyền này được gọi là Bắc Nguỵ. Qua hơn chục năm sau khi lập nước Bắc Nguỵ, Thác Bạt Khuê dần dần tiêu diệt hết chính quyền của các dân tộc vùng lân cận, do đó mà biên giới lãnh thổ càng ngày càng được mở rộng. Vào năm 389 sau Công nguyên, Thác Bạt Khuê lại dời đô về Bình Thành ( ngày nay là thành phố Đại Đồng của tỉnh Sơn Tây), huỷ bỏ hiệu Vương Nguỵ, lập tức lên ngôi Hoàng Đế, xưng là Bắc Nguỵ Đào Vũ Đế. Chính quyền Bắc Nguỵ dần dần phát triển thành vương Triều phong kiến thống trị phương Bắc thời Nam Bắc Triều.

Do Phật giáo được lưu hành rộng rãi trong xã hội ở phương Bắc ở Trung Quốc vào thời kỳ Ngũ Hồ Thập lục quốc ( 16 nước Ngũ Hồ), đồng thời Phật giáo cũng đã tạo được một uy thế nhất định, do đó trong thời kỳ đầu lập nước Bắc Nguỵ, Đạo Vũ Thế Thác Bạt Khuê về cơ bản cũng không dám coi thường Phật giáo. Theo sử sách có liên quan, Thác Bạt Khuê rất giỏi về các pháp thuật của Hoàng Lão, nhưng cũng rất muốn truyền bá kinh Phật; do thời kỳ này bước đầu xã hội ổn định, phải lo hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước, do đó mà ông ta cũng chưa có điều kiện nghĩ đến việc xây dựng chùa chiền, phát triển tăng chúng; Nhưng ngay cả trong thời kỳ chiến tranh khẩn cấp, ông ta cũng đặc biệt coi trọng các tăng sĩ. Hồi đó có một vị Hoà Thượng tên là Tăng Lãng, Phật Pháp uyên thâm, hoà thượng này cùng với đồ đệ của mình ở ẩn trong động Kim Dư của núi Thái Sơn. 

Sau khi biết tin này, Đạo Vũ Đế lập tức hạ chiếu thư gửi đến Tăng Lãng, đồng thời gửi cho Tăng Lãng vải lụa trắng muốt như bạc, hơn thế nữa Đạo Vũ Đế còn tán dương công đức của Tăng Lãng như núi như biển, khen Tăng Lãng là một con người tính toán tài tình, nhìn xa trông rộng, do đó Đạo Vũ Đế đã tha thiết mời ngài Tăng Lãng xuống núi hoặch định chính sách cho mình, giúp mình cai quản thiên hạ. Còn có một số tăng sĩ nữa tên là Pháp Quả, là một con người am hiểu sâu sắc về yếu chỉ hoằng dương Phật Pháp, sau khi Bắc Nguỵ Đạo Vũ Đế lên ngôi Hoàng Đế, ngài Pháp Quả liền ca ngợi Đạo Vũ Đế như là một bậc Như Lai(5)của đương đại, rồi yêu cầu các Sa môn phải kính trọng lễ lạy Đạo Vũ Đế. Đạo Vũ Đế đối xử với ngài Pháp Quả càng nồng hâu hơn, phong ngài Pháp Quả làm tổng quản( chức này cũng giống như chức tăng chính của thời Hậu Tần, sau đổi thành tổng quản của các Sa môn, tức chức vụ cao nhất để quản lý các tăng sĩ). Chuyện các Sa môn Phật giáo phải cung kính lễ lạy các Vương giả, đó chính là một biểu hiện của xung đột gay gắt của Phật giáo sau khi du nhập vào Trung Quốc và các tôn giáo truyền thống của Trung Quốc, bấy giờ tại Pháp Quả lại với tư cách là một tu sĩ yêu cầu các Sa môn phải cung kính các Vương giả, điều này ở một ý nghĩa nhất định nào đó cũng coi như vứt bỏ sự kiên định, bất di bất dịch của Phật giáo. Nhưng sự nhượng bộ này của ngài Pháp Quả kể ra cũng có lý, tức là như ngài đã từng nói, Đạo Vũ Hoàng Đế là một vị Như Lai của đương đại, các Sa môn cung kính lễ bái ngài thì điều đó cũng giống như cung kính lễ bái Như Lai. Đây là một sự nhượng bộ vừa giữ vững được những nguyên tắc cơ bản nhưng lại có tính linh hoạt, nó đã mở đường cho Phật giáo được tiếp tục phát triển ở xã hội Bắc Triều.

Nhờ có sự qua lại liên tục của các vị đại đức cao tăng, Bắc Nguỵ Đạo Vũ Đế càng ra sức tôn thờ Phật giáo. Khi mà nền hoà bình vừa mới đến với phương Bắc, ngài lập tức hạ chiếu cho xây dựng và tu bổ các chùa, các tháp thờ Phật ở ngay trong kinh thành, điều đó đã giúp cho các tăng sĩ xuất gia và những tín đồ Phật giáo có nơi ở để tu hành và nơi đến làm lễ cúng bái. Điều này đã giúp cho Phật giáo chiếm được vị trí nhất định trong xã hội Bắc Nguỵ thời kỳ đầu lập quốc.

Sau khi Bắc Nguỵ Đạo Vũ Đế qua đời, con trai của ông tên là Thác Bạt Tự lên kế vị, xưng là Bắc Nguỵ Minh Nguyên Đế. Minh Nguyên Đế cũng kế tục chí, hướng của Cha, vừa tôn sùng Hoàng Lão vừa rất giỏi Phật Pháp, ông ta cũng cho xây dựng chùa chiền, miếu thờ Phật khắp mọi nơi, ông ta còn yêu cầu các Sa môn giúp mình việc giáo hoá các thế tục, coi tín ngưỡng Phật giáo là biện pháp để Vương hoá. Còn đối với vị hoà thượng Pháp Quả, Minh Nguyên Đế đã nhiều lần hạ chiếu phong cho ngài Pháp Quả các tước hiệu như: Phó Quốc Nhị Thành Tử, Trung Tín Hầu, An Thành Công v.về việc đó đã mở ra một việc là lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc các hoàng đế phong tước hiệu cho các tăng sĩ. Nhưng bản thân ngài Pháp Quả đã cương quyết từ chối không nhân các tước hiệu phong trên. Do cổng ra vào ngôi chùa mà ngài Pháp Quả đang ở tương đối nhỏ, xe kiệu của hoàng để không thể vào được. Minh Nguyên Đế lập tức cử thợ đến sang sửa lại cửa đó, để thuận tiện cho việc mình đích thân đến thăm viếng ngài Pháp Quả. Điều đó cho thấy thái độ trân trọng, tôn kính của ngài Minh Nguyên Đế đối với Phật giáo và những con người đại diện cho Phật giáo. Sau đó không lâu, ngài Pháp Quả viên tịch, lúc đó hơn 80 tuổi. Nhân lúc linh cữu chưa mai táng. Với lòng thương kính và trước mặt mọi người, Minh Nguyên Đế liền truy phong tặng ngài Pháp Quả các tước vị như: Lão Thọ Tướng Quân, Triệu Hồ Linh Công…Do ngài Pháp Quả lúc hơn 40 tuổi mới xuất gia, lúc ở thể tục đã cưới vợ và sinh con, Minh Nguyên Đế lập tức cho gọi con trai ở thế tục của ngài Pháp Quả đến nhận tất cả các tước hiệu này thay ngài Pháp Quả. Sự thật lịch sử này có vẻ như buồn cười, phong tước hiệu cho một vị hoà thượng, nhưng lại để cho con của ông ta đến nhận, điều đó trong lịch sử Trung Quốc chưa hề có.

Sự tôn kính Phật giáo của hai vị Đế Vương Đạo Vũ và Minh Nguyên Đế đã khiến cho Phật giáo ở phương Bắc ngày càng lớn mạnh, đồng thời dần dần Phật giáo đã trở thành một thành phần xã hội không thể xem nhẹ. Hiện thực lịch sử này tất nhiên sẽ làm cho mâu thuẫn giữa Phật giáo và văn hoá tư tưởng truyền thống của Trung Quốc cùng với nề nếp thống trị nhân dân của giai cấp cầm quyền trở nên gay gắt hơn.

Năm 424 sau Công nguyên, Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế Thác Bạt Đạo lên ngôi. Theo ghi chép của lịch sách sử có liên quan, thời kỳ sau khi lên ngôi, Thác Bạt Đạo tiếp tục kế nghiệp của hai vị Đế Vương là Đạo Vũ và Nguyên Minh, thường xuyên bàn luận Phật giáo cùng với các vị đại đức cao tăng. Vào ngày Phật đản(08-04) Âm lịch hàng năm, Thác Bạt Đạo còn cho rước tượng Phật lên xe kiệu đi diễu hành khắp các phố phường, bản thân mình cũng đích thân lên đứng ở cửa lầu rắc hoa lên trên đường phố để tỏ lòng thành kính. Sau khi Thác Bạt Đạo lên ngôi được ít lâu, ông ta liền cho tiến binh theo hành lang Hà Tây,trừng phạt và dẹp Lương Châu, sau đó đón rất nhiều tín đồ Phật tử trở về Bình Thành; ông còn bắt trả lại và khôi phục rất nhiều đất đai, danh lam thắng cảnh của các ngôi chùa cũ, đồng thời dùng danh nghĩa cá nhân xây chùa Tống Chánh ở Nghiệp Thành. Những điều trên cho thấy rõ, thời kỳ đầu lên ngôi, Thác Bạt Đạo rất coi trọng Phật giáo , hay có thể nói rằng, thời kỳ đầu lên ngôi ông ta đã Quy Y Tam Bảo (6). Theo lời ghi chép trong sử tịch có liên quan, ông ta sức khoẻ dồi dào, giỏi việc binh đao, thường xuyên đặt việc dẹp loạn lên hàng đầu; Tuy rằng ông ta có những hành động quy y Phật và tôn kính các Sa môn, nhưng ông ta chưa hề đọc qua một quyển kinh Phật nào, do đó chưa được tờ chỉ duyên báo của Phật giáo…điều này cho thấy rõ, tuy rằng Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế Thác Bạt Đạo rất tôn kính Phật giáo, nhưng ông ta cũng không mấy am hiểu Phật giáo .

Thời kỳ đầu lập chính quyền nhà Bắc Nguỵ, cần phải mở mang bờ cõi, cần phải củng cố hệ thống chính trị và thống trị nên cần phải thực hiện quản lý tốt các công việc như lao dịch, binh dịch và thuế khoá của nhân dân. Thông thường…các Sa môn Phật giáo thì được miễn các công việc lao dịch, binh dịch và thuế khoá, tất nhiên điều này đã ảnh hưởng đến nguồn binh lực và nguồn tài chính của nhà nước phong kiến. Do đó vào năm Thái Diên thứ tư ( năm 483 sau Công nguyên ) Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế đã ra chiếu lệnh, các Sa môn chưa đến 50 tuổi phải hoàn tục để bổ sung nguồn binh dịch và lao dịch cho quốc gia. Đồng thời Thái Vũ Đế rất coi trọng Nho học, ông ta định dùng nền văn hoá truyền thống tiên tiến ở vùng Trung Nguyên và chế độ chính trính trị để củng cố chính quyền của mình, ông ta làm như vậy là để tranh thủ sự hợp tác của các nhân sĩ và các địa chủ người Hán, mong dành được sự ủng hộ của họ. Dưới tiền đề như vậy, Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế đã dễ dàng chịu sự ảnh hưởng của Đạo giáo mà một trong những nội dung của nó là truyền thống văn hoá vùng Trung Nguyên, đồng thời chú trọng các nhân sĩ người Hán. Các tín đồ Đạo giáo đã nhiều lần gọi giáo chủ Lão Tử là Quốc Sư, và coi Phật giáo chỉ là một trong những pháp thuật Tây Nhung(7)du nhập vào, Đức Phật là thần tượng của người Hồ, đồng thời tuyên truyền cho pháp thuật trường sinh bất lão. Những điều đó đã có ảnh hưởng trực tiếp đến Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế. Hồi đó trong triều có một học sinh của ngài Thôi Hạo xuất thân trong một gia đình sĩ tộc, học rộng hiểu biết nhiều, rất giỏi về âm dương Ngũ Hành cùng với số thuật, bói toán, thường xuyên được tham dự các việc cơ yếu của quân chính. Nhưng người này rất sùng tín Thiên Sư của Đạo giáo tên là Khẩu Khiêm Chi ( Thiên sư tức Trương Thiên Sư hay Trương Đạo Lão, người cuối cùng thời Đông Hán Trung Quốc), mà không hề tin vào Phật Pháp. Trong lúc chuyện trò với Thái Vũ Đế, ông ta thường xuyên phỉ báng Phật giáo, cho rằng Phật giáo là một thứ hoang đường giả dối, là một thứ tai hoạ của thế gian. Do chịu hưởng trực tiếp của Thôi Hạo, Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế dần dần tôn sùng thiên sư đạo do Khấu Khiêm Chi khởi xướng.

Khấu Khiêm Chi tự là Phụ Trần, thời nhỏ đã theo các vị tiên học đạo, đã từng tu hành theo đạo Ngũ Đấu Mễ ( năm đấu gạo) do các vị Trương Linh, Trương Hoành, Trương Lỗ thời cuối Hán sáng lập và truyền thụ, sau đó theo Đạo sĩ vào trong núi Hoa Sơn học đạo và tu luyện. Theo ghi chép, từ khi ông ta nhận chức Thái Sư cùng với 20 quyển của Bộ” Vân Trung Ân Tụng Tân Khoa Chi Giới” từ Thái Thượng Lão Quân. Thái Thượng Lão Quân yêu cầu ông ta phải chỉnh đốn Đạo giáo, từ bỏ các pháp vớ vẩn của ba vị họ Trương kia. Đồng thời truyền thụ cho ông ta pháp thuật hợp khí nam nữ; còn yêu cầu ông ta đến nhận một bộ” Lục Đồ Chân Kinh” của Đạo giáo; gồm hơn 60 quyển do chút năm đời của Lão Tử là Lý Phả Văn trao cho, Lý Phả Văn Yêu cầu ông ta phải phò vua giúp nước để Vua sáng dân yên, đồng thời yêu cầu ông ta phải quảng bá đạo Phật, xây dựng nhiều Quán Vũ ( tức Đạo Quán)…vào những năm cuối của Minh Nguyên Đế, từ trên núi cao, Khấu Khiêm Chi trở về Bình Thành, kết bạn với Thôi Hạo, cùng với ông ta bàn những chuyện binh chiến, những chuyện lạc loạn các thời đại…đến thâu đêm suốt sáng, đồng thời ông ta cũng thường than thở rằng:” Ta ở ẩn tu hành, không ham những việc của thế gian, nhưng được sự uỷ thác của các vị thần yêu cầu ta phải học thêm Nho Thuật, để phò vua giúp nước, điều đó sẽ được mãi lưu truyền, nghìn năm không ai sánh kịp”. Thôi Hạo cũng đã viết được hai chục quyển sách, cùng nổi tiếng với Khấu Khiêm Chi.

Quãng năm đầu tiên đăng quang của Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế ( năm 424 sau Công nguyên ) thông qua ông Thôi Hạo, ông Khấu Khiêm Chi đã dâng lên triều đình những kinh sách về Đạo giáo. Ông Thôi Hạo giới thiệu rằng:” Xưa nay trước khi các Đế Vương thọ mạng nhất quyết phải có điềm báo trước. Ngày nay có vị tu nhân tích đức ở núi cao không mời mà đến, vậy bệ hạ cần phải cảnh giác với điềm báo trước. Ngày nay có vị tu nhân tích đức ở trong núi cao không mời mà đến, vậy bệ hạ cần phải cảnh giác với điềm báo trước này, làm lễ tế trời, chớ có hoàn toàn tin vào những lời bàn tán ở ngoài thế tục mà coi thường mạng sống của mình”. Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế nhận lấy quyển kinh sách của Đạo giáo do Khấu Khiêm Chi dâng lên, từ đó ngài hết sức tin Đạo giáo. Không những ông ta chỉ kính cẩn tin tưởng coi Khấu Khiêm Chi như bậc thầy mà đồng ý cho cả hơn 40 đệ tử của ông Khấu Khiêm Chi trở về Bình Thành, để cho họ có chỗ tế lễ. Ông ta còn cử người đem ngọc ngà châu báu cùng các gia súc vào tế lễ các vị thần trong núi cao, từ đó trở đi Khấu Khiêm Chi luôn luôn được tham dự bàn tán những việc cơ mật của chính quyền nhà Bắc Nguỵ. Vào năm 441 sau Công nguyên, Khấu Khiêm Chi dâng tấu rằng:” Ngày nay Bệ hạ là một vị Vua chân chính anh minh ngự trị trên đời xưa nay chưa hề có; do đó bệ hạ cần phải lập đàn tế trời xin bùa chú, để mọi người thấy rõ công đức của các vị thánh nhân toả sáng cho thiên hạ.” Nghe lời tấu của Khấu Khiêm Chi, Thái Vũ Đế liền đổi thành “ Thái Bình Chân Quân”, đồng thời cho người xây dựng đàn Đạo giáo để tế trời. Vào năm sau. Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế lập tức lên Đạo đàn, xin bùa chú, để tuyên chiếu trong thiên hạ.

Từ đó trở đi, được tin dùng của Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế, Đạo giáo gặp cơ duyên phát triển mạnh mẽ, thế và lực của nó ngày càng lớn mạnh. Khấu Khiêm Chi và những người đồng đảng ngày càng không ngừng kích động, nịnh hót Thái Vũ Đế, điều đó tất nhiên là làm cho Thái Vũ Đế bắt đầu bài xích Phật giáo. Năm thứ năm của Thái Bình Chân Quân( năm 444 sau Công nguyên ) vào tháng giêng, Thái Vũ Đế hạ chiếu nói rõ:” Kẻ ngu si dốt nát mà mê muội tin theo tà, lén lút phụng dưỡng thầy mo, dấu giếm tàng trữ các loại sách bói toán tiếng sấm, bói toán âm dương, chiêm tinh và vĩ thư…trong đó còn có cả các Sa môn Phật giáo, giả làm tây Nhung mọi rợ rồi từ đó tạo nên ác nghiệp, yêu nghiệt. Do đó từ nay trở đi từ Vương công quan đến dân thường không được giấu giếm các Sa môn làm công việc như một thầy mo và những người đồng đảng ở trong nhà mình, những kẻ nào đến kỳ hạn mà không chịu ra đầu thú, chém ngay không tha.” Trong chiếu thư này, Thái Vũ Đế chỉ không cho phép giấu diếm nuôi dưỡng các thầy mo Phật giáo, không cho phép giấu diếm tàng trữ những loại sách chiêm tinh bói toán âm dương, chủ yếu là ông ta sợ thần dân làm phản, bởi vì năm ngoái đã xảy ra một sự kiện là một vị Hữu thừa tướng( quan văn) tên là Trương Tung Cầu mưu toan làm phản. Nhưng trong chiếu thư này ta cũng có thể thấy rõ Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế đã tăng cường bài xích Phật giáo như là một thứ tôn giáo của những kẻ mọi rợ. Ông ta cũng không hề đụng chạm gì đến Đạo giáo, điều đó có thể cho thấy rõ sự ban bố chiếu thư này cũng có liên quan đến sự sùng ái Thái Vũ Đế của Đạo giáo đồng thời Đạo giáo cũng có sự khuyên nhủ đối với Thái Vũ Đế. Nhưng trong chiếu thư này không hề có ý định diệt tận gốc rễ Phật giáo.

Vào năm thứ sáu của Thái Bình Chân Quân( năm 455 sau Công nguyên) , một người Hồ vùng Lô Thuỷ tên là Cái Ngô đã tập hợp nhân dân khởi nghĩa ở vùng Hạnh Thành( ngày nay là vùng Hoàng Linh của tỉnh Thiểm Tây) dựng lên ngọn cờ đấu tranh vũ trang chống lại sự thống trị của chính quyền Bắc Nguỵ , lập tức cuộc khởi nghĩa này được sự ủng hộ của người Hán, người Hồ vùng Thiểm Tây và Cam Túc. Lực lượng của nó ngày càng lớn mạnh. Vào năm sau Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế đã dẫn quân về đồn trú tại Trường An, sau đó đích thân chỉ huy quân đội trấn áp cuộc khởi nghĩa của Cái Ngô. Trong thời gian cho cho quân đồn trú tại Trường An, sau đó đích thân chỉ huy quân đội trấn áp cuộc khởi nghĩa Cái Ngô. Trong thời gian cho quân đồn trú ở Trường An, một lần ngẫu nhiên Thái Vũ Đế phát hiện ra ở trong một ngôi chùa cất giấu vũ khí, đồng thời trong ngôi chùa ấy ông ta cũng phát hiện ra một số lượng rất lớn các dụng cụ chưng cất rượu và rất nhiều vàng bạc châu báu của những người giàu có gửi lại đó, trong hầm kín của ngôi chùa đó cũng cất giấu nhiều phụ nữ xinh đẹp. Sự phát hiện ngẫu nhiên này trở thành nguyên nhân trực tiếp khiến Thái Vũ Đế quyết định huỷ diệt Phật giáo. Ông ta cho rằng, các Sa môn không được phép có vũ khí, vì vậy số vũ khí mà các Sa môn ở Trường An này có nhất định là có liên quan đến cuộc khởi nghĩa của Cái Ngô, hơn thế nữa trong ngôi chùa đó lại có dụng cụ nấu rượu và giấu giếm phụ nữ, các điều đó hoàn toàn trái ngược với giới luật của Phật giáo. Do đó cùng với kiến nghị của ông Thôi Hạo, Thái Vũ Đế lập tức hạ lệnh cho chém giết các Sa môn, đập phá, tiêu huỷ tượng Phật; cùng thời gian này, ông ta lại ra sắc lệnh cho Thái Tử đang trấn thủ Bình Thành tên là Thác Bạt Hoà cho quân tuần Trường An kiểm soát chặt chẽ khắp Trường An, xúi dục nhân dân cùng tham gia huỷ diệt toàn bộ Phật Pháp. Nhưng thái tử Thác Bạt Hoà vốn là một người rất mến mộ Phật giáo, sau khi nhận được chỉ dụ của Thái Vũ Đế, Thái Tử đã nhiều lần dâng biểu xin đừng huỷ diệt Phật giáo, nhưng Thái Vũ Đế cương quyết không chấp nhận, đồng thời lại hạ chiếu nói rõ:” Phật giáo chỉ là một thứ tôn giáo ngoại lai, không gần gũi với tình cảm con người ; Vì Phật giáo được phát triển và thịnh hành đã lấn át sự lưu hành của chính giáo, khiến cho lễ nghĩa bị huỷ hoại, gây nên đau thương loạn lạc cho nhân dân, do đó các tướng quân trấn giữ các miền, các quan thích sử, nhất định phải đem các bức ảnh, các bức tượng, cùng với các bộ kinh của lũ người Hồ kia đem xé và thiêu huỷ hết, các Sa môn Phật giáo bất luận là già trẻ đều đem chém hết, không thương sót bất cứ một ai”. Bức chiếu thư này của Thái Vũ Đế đã chứng tỏ ông ta kiên quyết diệt trừ Phật giáo tận gốc rễ.

Nhưng vị giám quan trấn giữ Bình Thành, tức Thái Tử Thác Bạt Hoà đã chần chừ không cho công bố bức thư này, khiến cho các Sa môn ở khắp nơi sau khi biết tin đó vội vã chạy trốn, đồng thời họ cũng cho cất giấu hết tượng Phật bằng vàng, bằng bạc cùng với kinh sách Phật giáo. Cuối cùng chỉ có một vài chùa và tháp thờ Phật bằng thổ mộc, nhà tranh vách đất bị tàn phá. Nhưng một số Sa môn bị bắt đi lính rồi đi tiến hành bắt bớ. Những Sa môn bị bắt, đều được chấm dứt tu hành theo Phật giáo;nếu ai trốn, khi bắt được, lập tức cho chém giết hoặc cho bêu đầu ngay. Do đó trong khắp đất nước không thấy bóng dáng Sa môn. Lần huỷ diệt Phật Pháp này của Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế là lần đầu tiên Phật giáo bị tấn công và huỷ diệt mang tính đồng loạt kể từ khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc. Việc này cũng có nguyên nhân lịch sử về mặt xã hội một cách sâu sắc. Trước tiên, việc huỷ diệt Phật Pháp lần này là kết quả tất yếu của mối mâu thuẫn gay gắt giữa Phật giáo và nền thống trị truyền thống của Trung Quốc. Sau khi du nhập vào Trung Quốc vào thời kỳ Lưỡng Hán, trải qua mấy trăm năm lưu hành và phát triển,Phật giáo đã dần dần trở thành một bộ phận rất có địa vị trong xã hội Trung Quốc. Việc tăng chúng càng ngày càng đông đúc đã ảnh hưởng đến việc binh dịch, việc tô thuế và thu nhập của nhà nước phong kiến. Việc mở mang xây dựng các chùa chiền cùng với diện tích đất đai nằm trong khuân viên chùa chiền, đất đai để cho tăng chúng làm ruộng, đã hình thành một hệ thống kinh tế của nhà chùa có quy mô nhất định, điều này đã nảy sinh ra mâu thuẫn với nền kinh tế của chế độ phong kiến lúc bấy giờ, ngoài ra, có một số tăng sĩ của Phật giáo được trực tiếp tham dự những việc cơ mật của quốc gia đại sự, ở một mức độ nào đó, việc này cũng có ảnh hưởng đến những quyết định trong chính sách thống trị của nhà nước phong kiến đối với thế tụcnhững điều này nếu như không được điều hoà một cách hợp lý thì sẽ được biểu hiện bằng một sự xung đột gay gắt. Thứ hai, việc tiêu diệt Phật Pháp lần này cũng là kết quả tất nhiên của mối xung đột gay gắt giữa Phật giáo và Đạo giáo. Kể từ thời Lưỡng Tấn, sự mâu thuẫn giữa Phật giáo và Đạo giáo cùng sự đấu tranh giữa hai tôn giáo đó kéo dài liên miên. Đến thời kỳ Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế, Thôi Hạo cùng đồng đảng đã lợi dụng thế lực của triều đình tấn công Phật giáo, khiến cho sự mâu thuẫn giữa Phật giáo và Đạo giáo càng trở nên gay gắt, cuối cùng việc tạm thời tiêu diệt Phật Pháp lúc bấy giờ đã chấm dứt được mối mâu thuẫn này. Nhưng lần huỷ diệt Phật Pháp này của Bắc Nguỵ Thái Vũ Đế vừa mang tính chất của chế độ chính trị phong kiến ( thế tục) chống lại lực lượng Phật giáo, vừa mang tính chất Đạo giáo tấn công lại lực lượng của Phật giáo.

Vào năm Thái Bình Chân Quân thứ 9 ( năm 448 sau Công nguyên), Khấu Khiêm Chi mất, và vào năm 450 sau Công nguyên, học trò của ông ta là Thôi Hạo cũng bị giết. Hai năm sau đó Thái Vũ Đế Thác Bạt Đạo cũng bị Thái giám Tống Ái giết. Văn Thành Đế Thác Bạt Tuấn ( cháu Thác Bạt Khuê) lên ngôi ( năm đó mới 13 tuổi), hạ chiếu chỉ phục hưng Phật giáo. Trong chiếu thư, ông ta đã ca ngợi Phật Pháp rằng:” Phật Pháp có thể giúp vua cai quản việc nước, mở mang trí tuệ cho nhân dân và bài trừ những đam mê tà bậy, mở mang chánh giác”. Trong chiếu thư đó ông ta kết luận: hành động huỷ diệt Phật Pháp của Thái Vũ Đế là hậu quả của việc quan lại và các cấp hiểu nhầm Thánh chỉ của Hoàng Đế. Văn Thành Đế còn ra sắc lệnh yêu cầu các châu, các quận, các huyện phải khôi phục và xây dựng thêm nhiều chùa thờ Phật, cho phép mọi người được xuất gia, nhưng cũng quy định cho những châu lớn đông người là 50 người được phép xuất gia, những châu nhỏ dân số ít là 40 người xuất gia. Sau đó khắp vùng phương Bắc, Sa môn đông đúc, các chùa thờ Phật được mau chóng trùng tu, sửa chữa và xây dựng thêm, Phật kinh, tượng Phật và các bức tranh vẽ Phật cũng được lưu hành trở lại.

Cùng với việc khôi phục Phật Pháp, Bắc Nguỵ Văn Thành Đế còn cung cấp một nguồn kinh tế tương đối ổn định để tạo điều kiện thuận lợi cho Phật giáo phát triển. Vào những năm đầu tiên của nền hoà bình( năm 460-465 sau Công nguyên ) ông ta cử một tăng sĩ tên là Đàm Diệu giữ chức tổng quản Sa môn, giống như tổng quản của các tu sĩ Đạo giáo, làm nhiệm vụ quản lý toàn bộ các công việc của tăng ni Phật giáo. Tăng sĩ Đàm Diệu còn tấu thỉnh với Văn Thành Đế rằng:” Hãy cho phép những hộ dân bị cướp bóc, phải đến để làm ruộng thuê kia mỗi năm nộp cho Tào Tăng ( Tào Tăng là một hệ thống do nhà nước tạo nên để quản lý các Tăng- Ni và chùa chiền) 60 hộc thóc ( có thời mỗi hộc thóc là 10 đấu, có thời mỗi hộc thóc là 5 đấu) để Tăng Tào chi dùng”. Văn Thành Đế còn chuẩn một tấu bài khác là, cho phép các gia đình phật tử được đặt tên theo kiểu chữ Tăng Thị cộng thêm tên họ, ví dụ như họ Túc thì đặt tên thành Tăng Thị Túc. Ông đàm diệu còn thỉnh rằng, nên biến các gia đình phạm tội trong các quan nô( kẻ ở của quan lại) thành gia đình phật tử, cho họ có điều kiện được vào chùa chiền làm công việc quét tước lao dịch,Văn Thành Đế lập tức chuẩn tấu. Như vậy sự phục hồi và phát triển nền Phật giáo Bắc Nguỵ đã có một cơ sở tương đối vững chắc.

Trong thời kỳ nhận chức tổng quản Sa môn. Ông Đàm Diệu còn tổ chức khai quật năm nơi trước kia là nơi tạc tượng đá ở vùng biên giới Võ Châu, Bình Thành, cho tổ chức điêu khắc các bức tượng Phật, lúc đầu thường là cao đến 70 xích (khoảng 25m), về sau thấp xuống khoảng 60 xích ( khoảng 22m). Đó là việc mở đầu cho việc khai quật và kiến tạo Phật giáo ở vùng miền núi mênh mông này.

Sau thời kỳ Văn Thành Đế Bắc Nguỵ, đến các thời kỳ như Hiến Văn Đế, Hiếu Văn Đế, Tuyên Vũ Đế, Hiếu Minh Đế v.v…Tất cả đều rất tôn sùng và rất giỏi Phật Pháp. Hoặc là họ ra các chiếu lệnh xây dựng chùa chiền, hoặc là ra các chiếu lệnh cho mở đạo tràng giảng Phật Pháp, hoặc là cho tạc tượng Phật, điều đó đã giúp cho nền Phật giáo Bắc Nguỵ được hồi phục một cách mau chóng. Theo sách sử có liên quan, vào cuối thời Bắc Nguỵ, ở trong nội địa có khoảng 2 triệu tăng ni, khoảng hơn 3 vạn ngôi chùa. Suốt thời kỳ Bắc Nguỵ, Phật giáo tuy có sự cản trở và phá hoại của Thái Vũ Đế, nhưng sự phục hồi và phát triển trở lại của Phật giáo là tương đối nhanh chóng tuy lúc thăng trầm này hầu như đã vượt qua sức tưởng tượng của mọi người. Điều đó chứng tỏ, nền Phật giáo lúc bấy giờ đã có được một cơ sở trong xã hội tương đối vững chắc và bền chặt.

Vương Chi Bình




Có phản hồi đến “5. Thác Bạt Thọ Cứu Phật Giáo Lúc Nguy Nan”

Câu hỏi ngẫu nhiên:    =  (Nhập số)  

Tags

Những bài viết nên xem:

 
 
 

Trang nhà không giữ bản quyền. Mọi hình thức sao chép đều được hoan nghênh.

Thư từ, bài vở đóng góp xin gửi về email:linhsonphatgiaocom@gmail.com