Phật pháp giảng “Không” là phải “không” các chấp trước, “không” các hai bên, “không” các giả tướng, “không” các đối đãi, để lại cấp cho chúng ta một thế giới chân thật.

Lúc tôi mới xuất gia, vâng lệnh thầy là Thượng nhân Chí Khai đến Luật Học Viện Thê Hà học. Có một hôm, pháp sư Giác Dân là Giáo thọ Quốc văn viết lên bảng mười chữ: “Dĩ Bồ-đề vô pháp trực hiển Bát-nhã Luận”, bắt chúng tôi lấy đó làm đề bài viết văn. Lúc ấy tôi mới mười hai tuổi, từ khi đi học chưa hề nghe hiểu qua một câu kinh, mà mười chữ này lại giống như Thiên thần, khiến tôi mò chẳng nhằm bờ mé, chỉ đành đông sao tây chép, mơ mơ hồ hồ mà nộp bài. Cho đến về sau, tôi trải qua bao thế sự tang thương, lại nhiều lần giảng Tâm kinh và kinh Kim Cang, ngay khi nhớ lại đề mục năm xưa, mới bỗng dưng đại ngộ: “Bồ-đề vô pháp” là “không”, “trực hiển Bát-nhã” là “hữu”, đúng ý nghĩa của câu nói chính là “phải không, mới có thể có”.

Người trên thế gian thường thường đem “không” và “có” chia thành hai vật chẳng đồng, cho rằng cái “không” chẳng phải là “có”, cái “có” chẳng phải là “không”. Nhưng khi Phật giáo giải thích chân lý vũ trụ nhân sinh, nhận là “không” rồi, mới có thể “có”; chẳng không thì chẳng có. Ví như tách trà không mới có thể đựng nước, ví da không mới có thể bỏ tiền, nhà cửa không mới có thể có người ở, đất đai không mới có thể xây lầu, thậm chí lỗ mũi không mới có thể hô hấp, lỗ tai không mới có thể nghe tiếng, cái miệng không mới có thể nhai nuốt, bao tử, ruột không mới có thể chứa thức ăn, chẳng “không” làm sao “có” được chứ?

Không, sự thực là chân lý có tánh kiến thiết rất giàu có, chỉ vì rất nhiều người hiểu lầm ý nghĩa của “không”, thậm chí cho rằng trời cũng không, đất cũng không, thế gian cũng không, là một sự việc đáng sợ biết bao! Kỳ thực, “không”, nghe dường như là chẳng có gì cả, nhưng hư không chẳng phải là bao la vạn tượng, ưng có đều có đó sao? “Không”, nhìn dường như là không hình không tướng, nhưng hư không vào vuông thì vuông, vào tròn thì tròn, chẳng phải là có đủ công dụng đối đãi siêu việt, không chỗ nào chẳng có tướng đó sao?

“Không” của Phật giáo, là dùng để thuyết minh: Sum la vạn tượng đều là do nhiều thứ điều kiện họp lại mà thành, do đó chẳng những trong vũ trụ không có sự vật nào tồn tại độc lập, mà giữa đây kia đều có đủ quan hệ hỗ tương dựa vào nhau mà sống còn. Quan hệ, điều kiện nói ở đây, trong Phật giáo gọi là “nhân duyên”. “Trung Luận” của ngài Long Thọ nói:

Các pháp nhân duyên sanh

Tôi nói tức là không.

Lại nói: “Vì có nghĩa không, nên tất cả pháp được thành. Vì không có nghĩa không, nên tất cả pháp chẳng thành”. Do đây có thể thấy, Phật giáo giảng “không”, là muốn “không” các chấp trước, “không” các hai bên, “không” các giả tướng, “không” các đối đãi, để đem lại cho chúng ta một thế giới chân thật. Nhân đây, “không” chẳng những không có tánh phá hoại, mà lại là bản thể xây dựng vũ trụ nhân sinh. Kinh nói: “Nếu muốn biết được cảnh giới Phật, nên tịnh ý mình như hư không”. Chúng ta nếu như có thể triệt ngộ lý “không”, khiến tâm lượng của chính mình rộng lớn được như hư không, bèn có thể lý sự viên dung, sự sự vô ngại.

Đức Phật sau khi lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp cho mẹ suốt ba tháng, trở về nhân gian, đệ tử nghe tin này, tranh nhau nghinh đón, Tỳ-kheo ni Liên Hoa Sắc vận dụng thần thông, đến trước mặt đức Phật đầu tiên, cung kính lạy dưới chân Phật và nói:

- Đệ tử Liên Hoa Sắc là người đầu tiên tiếp đón Phật-đà.

Đức Phật lại nói:

- Người đầu tiên đến tiếp đón ta không phải ngươi, mà là Tu-bồ-đề đang ở trong hang núi tại thành Vương-xá ngồi yên quán không. Có thể thấy được chân lý “không” mới là người chân chính thấy Phật-đà.

Lại có lần, đức Phật trên hội Linh Sơn, cầm một hạt châu như ý đổi màu, hỏi Thiên vương bốn phương:

- Các ông nhìn xem hạt châu như ý này màu gì?

Thiên vương bốn phương xem xong, có người nói là màu xanh, có người nói là màu vàng, có người nói là màu đỏ, người thì nói là màu trắng, Phật-đà bèn thâu châu như ý lại, rồi xòe tay ra, hỏi bọn họ:

- Hạt châu ma-ni hiện ở trong tay ta đây màu gì?

Các Thiên vương không hiểu chỗ chỉ trong tâm Phật, không hẹn mà cùng trả lời:

- Bạch Thế Tôn! Trong tay Ngài hiện tại căn bản không có gì, có bảo châu như ý nào đâu?

Đức Phật bảo bốn Đại Thiên vương:

- Ta đem châu thế gian tầm thường cho các ông xem, các ông đều biết phân biệt màu của nó. Nhưng lúc bảo châu đích thực ở trước mắt các ông, các ông lại nhìn mà chẳng thấy, thật là điên đảo biết bao!

Đích xác, người đời điên đảo, chấp trước cái có huyễn ảo, mê mình theo vật, nhân đây, lúc có thu hoạch thì vui mừng hớn hở, lúc có mất mát thì buồn rầu khổ não, lúc mọi việc thuận lợi thì hưng phấn vô cùng, lúc gặp khó khăn thì thất vọng gục đầu, tâm tính của chính mình hoàn toàn bị ngoại cảnh dẫn dắt mà chẳng biết. Nếu như chúng ta có thể nhận biết tất cả sự vật thế gian đều là vô thường chẳng thật, dùng chân lý “không” để điều hòa và thống nhiếp quan niệm đối đãi này, như thế bất kể có cũng tốt, không cũng tốt; khổ cũng tốt, vui cũng tốt; khó cũng tốt, dễ cũng tốt; vinh cũng tốt, nhục cũng tốt, chốn chốn nơi nơi đều có thể làm đến “nên không chỗ trụ mà sanh tâm kia” như trong kinh Kim Cang nói, thì bèn có thể không đâu chẳng trụ, cuộc đời như thế không phải là rất giải thoát tự tại sao?

Nhớ lúc tôi vừa đến Đài Loan, trong mình không có một vật, nhưng tôi không thấy nghèo, cũng không thấy khổ. Vì được giáo dục trí tuệ “không” của mười năm ở tùng lâm khiến tôi cảm nhận một cá nhân không cần lấy vật chất dồi dào làm đầy đủ, thử nghĩ trong b��u trời, trăng sao nhấp nháy khả dĩ cho tôi tự do thưởng thức; trong công viên, cây cối bông hoa chen chúc khả dĩ cho tôi mặc tình ngắm nghía; ở phố chợ, đường sá khả dĩ mặc tôi bước đi; thiên nhiên, chim, thú, trùng, cá khả dĩ tùy ý tôi kết duyên. Tôi cảm nhận sâu xa sự giàu có của ba ngàn đại thiên thế giới, lại từ đáy lòng cảm tạ đức Phật vĩ đại, Ngài ngàn cay muôn đắng thể nghiệm ra lý “không”, để tôi có thể tuân theo, học tập, bắt chước, hưởng dụng. Do tôi có một trái tim “không” rỗng tiếp nạp tất cả, giờ giờ khắc khắc đều đem thái độ cảm ân, biết đủ ra phục vụ, dâng hiến. Kết quả vì chính mình mang đến rất nhiều cơ duyên. Do tôi dùng một trái tim “không” linh động tiếp đãi sự vật, nơi nơi chốn chốn đều đem pháp hỉ vô hạn đầy lòng ra hoằng pháp độ chúng, kết quả vì Phật giáo khai thác trời đất mới toanh. Tôi thể hội được chân đế “phải không mới có thể có”, thực tại là kho báu cuộc đời lấy hoài chẳng hết, dùng hoài không cạn.

Tôi đã hiểu ra chính mình đến thế gian, là “không không” mà đến. Sinh sống trên thế gian, là “không không” mà sống; nhân đây tôi đối với sở hữu trên thế gian, cũng hiểu là “không không” mà có. Năm 1947, tín đồ cúng dường tôi một biệt thự hoa viên tinh tế để dùng tiến tu. Tôi lấy tên là tinh xá Phổ Môn, đẹp thì đẹp, nhưng tôi không nhận làm sở hữu của mình. Nhân đây, tôi vào năm 1957, “không” bỏ cái phòng này rồi, ở phố Tam Trọng huyện Đài Bắc thành lập nơi phục vụ văn hóa Phật giáo, vì văn hóa Phật giáo mà nỗ lực, về sau nhân vì việc Phật sự hưng thịnh, không đủ sử dụng, dời đến bên cạnh Viên Hoàn đường Trung Chính phố Cao Hùng và phụ xây thêm một nhà Ấu Trĩ Viện. Ba năm sau, có xét việc bồi dưỡng Tăng tài mới là cơ sở căn bản của Phật giáo, tôi lại “không” bỏ phòng xá yên tĩnh và ấm cúng trên mảnh đất hoàng kim này đến Phật Quang Sơn hoang vu vắng vẻ. Theo lối này, đem “không” gian nhỏ đổi lấy “không” gian lớn. Như nay sự nghiệp Phật giáo được làm càng lúc càng lớn, đạo tràng Phật giáo xây dựng càng lúc càng nhiều, nhưng tôi chẳng thấy lớn, cũng chẳng thấy nhiều, thậm chí tôi chẳng thấy tự mình “có”, nhân vì tôi nhận ra rằng tất cả những cái này đều là sở “hữu” của đại chúng, tôi chẳng qua chỉ là một nhân duyên trong đó mà thôi.

Thường có người hỏi tôi:

- Phật Quang Sơn có nhiều kiến trúc to lớn như thế, thậm chí có viện chia ra hơn một trăm gian. Kinh phí to tát như thế từ đâu ra?

Tôi đều bảo họ:

- Là từ “không” mà ra.

Lấy ngay Phật Quang Sơn mà nói, nó vốn là một núi đất tre gai mọc đầy cỏ hoang lấp chân, không có người nào chịu khai khẩn, huống là nói chuyện ở, nhưng trải qua sự chai tay, chai chân của đại chúng, một phen nỗ lực rồi, chẳng phải là “trong không sanh diệu hữu” sao?

Phật Quang Sơn sở dĩ có thể từ núi hoang trở thành thánh địa, đúng như lý niệm mà lúc vừa mới khai sơn tôi đã đề xuất: “Lấy không làm có, lấy lui làm tiến, lấy không làm vui, lấy chúng làm mình”. Cũng như lúc khai quang ở Đại Phật Thành, tôi nói pháp: “Lấy nước suối Tây Lai, chọn đá cát Cao Bình, gộp sức người toàn cầu, xây dựng Đại Phật tối cao”. Chính nhân vì là các duyên hòa hợp, do đó là nghĩa “không” tạo thành; chính nhân vì tôi “không” không nghèo thiếu, do đó đông tay nên việc, góp gió thành bão. Như nay tại Phật Quang Sơn, có ba ngàn người sinh hoạt, ăn uống, tôi đã không có điền sản ông bà để lại, lại không kinh doanh buôn bán như thế tục, thậm chí cổ phiếu, bán trả góp tôi đều dốt đặc cán mai, tôi chỉ là có lòng cất chùa, an Tăng, lo cho người. Nhưng mà thật lạ lùng, bất kể tôi đến đâu, đồ chúng đều rất sợ tôi nói một câu:

- Tôi không muốn ở đây, tôi muốn đi!

Có thể thấy nhân sinh thế sự đúng như Tâm kinh nói, không chỗ được mà được mới là thật được. Từ sự vật có hình có tướng mà tìm lấy, dù cho chiếm hữu cũng chẳng phải thật có.

Trên xã hội, nhân vì người không hiểu rõ Phật pháp mà hiểu lầm nghĩa không, cố nhiên khó tránh khỏi, người đối với Phật pháp hiểu biết nửa vời mà chỉ lầm nghĩa không, cũng vẫn có nhiều người. Ví như có số người cho là tất cả đều không, vô thường huyễn hóa, chẳng nên chấp trước, do đó cái gì cũng chẳng còn; có số người hiểu được tất cả đều không, phải kịp xa lìa sớm, chẳng nên tham giữ, do đó chủ trương tự tu tự độ; thậm chí có số người khoe khoang thế trí biện thông, đem nghĩa “không” làm hoa tai mắt người. Kỳ thực, nếu như chấp trước vào cái không chấp trước, chẳng phải cũng là một loại chấp trước sao? Tham giữ sự thanh tịnh vô vi, cũng chẳng phải là một loại tham giữ sao? Không biết vờ ra vẻ biết, lại không phải là cách làm dối mình, dối người sao? Số người này đã không cách gì tương ưng với chân lý “không”, lại làm sao có thể “có” Phật pháp chân thật thọ dụng chứ?

Như đức Phật, xuân hạ thu đông đều mặc một y phấn tảo, cố nhiên thấy tự tại nhàn nhã, dù cho có khoác y đính vàng của vua ban, cũng không mảy may kiêu ngạo. Đã có thể trà thô cơm lạt qua ngày, cũng có thể dùng miếng ngon vật lạ; đã có thể ăn dưới gốc cây, gội sương dầm gió, cũng có thể an trụ lầu quỳnh điện ngọc; đã có thể chính mình ở riêng rừng núi, cũng có thể cùng ở chung với bốn chúng đệ tử; lúc được tôn sùng cúng dường trước sau như như chẳng động, lúc bị người hủy báng dèm pha cũng không hầm hầm nổi giận. Đức Phật đối với phú quý bần tiện, cùng thông được mất, thiện ác sạch nhơ, tốt xấu cao thấp, đã chẳng bận tâm cũng không trôi xuôi theo đời. Tùy cảnh ngộ mà an như thế này, đem tinh thần lý “không” vào sinh hoạt thực tế chính là “sự giàu có” lớn nhất của Phật giáo, cũng là di sản lớn nhất mà đức Phật để lại cho người sau.

Bồ-tát Đề-bà và những Cao tăng đại đức như đại sư Huệ Tư…, tuy nhiều lần bị người ác độc hại, thậm chí bị đặt vào chỗ chết, nhưng vẫn không giảm bi nguyện phá tà hiển chánh, hoằng pháp độ sanh, từ những trước tác của các ngài, chúng ta có thể biết được. Cái tinh thần “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi”, “nhẫn nhục vác nặng, sanh tử nhất như” này, cũng đều là bắt nguồn từ sự tu hành lâu dài đạt được trí tuệ “không” của Bát-nhã.

Tôi từng đã bị đồng đạo chèn ép, cũng từng bị giáo đồ đạo khác phá hoại; tôi từng trải qua vô số lần gặp cản trở, cũng từng qua nhiều lần bị người vu cáo mà trở thành đối tượng của đơn vị điều tra an ninh, thậm chí nhân vì bị hiềm nghi làm gián điệp mà nếm mùi lao ngục. Tôi sở dĩ có thể không oán thù, không hối hận, không khuất phục, không nhiễu loạn, nhiều lần ngã xuống đứng lên, vượt hiểm như chơi, là nhân vì tinh thần vô ngã phụng hiến của cổ Thánh tiên Hiền, trước sau như ngọn đèn sáng trong bóng tối chiếu soi lên tôi, để tôi khởi lòng tin và dũng khí vượt bực. Tâm kinh nói: Nếu có thể “chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, là có thể “độ nhất thiết khổ ách”, thật chẳng phải lời hư dối.

Có một học Tăng hỏi thiền sư Duy Khoan:

- Đạo ở đâu?

Thiền sư Duy Khoan đáp:

- Chỉ ở trước mắt.

- Sao con không thấy?

- Vì ông có “ngã” do đó không thấy.

- Con còn “ngã” nên không thấy; như thế, Thiền sư thì sao? Ngài thấy rồi chăng?

Thiền sư đáp:

- Có “ngã”, có “nhân”, càng thấy chẳng được.

- Nếu như không “ngã”, không “nhân”, thấy được chăng?

- Không “ngã”, không “nhân” ai có thể thấy đạo chứ!

Chỗ nói: “mượn giả tu chân”, trên thế gian, tất cả mọi sự vật cố nhiên là huyễn hóa đều không, đối đãi nhau mà có. Nhưng chúng ta cũng phải ở trong nhân sự mình người duyên khởi tạm có này mà tu trì. Bằng không, làm sao thể chứng chân đế “chân không chẳng ngại diệu hữu, diệu hữu chẳng ngại chân không” được? Nhân đây, khi tham học ở tùng lâm trong mười năm, tôi tuy lấy tham thiền đả tọa, lễ Phật, niệm Phật làm công khóa của mình, cũng từng có cảnh giới hồn nhiên vong ngã, mất cả thân tâm, nhưng tôi chỉ đem tôn giáo quý báu này thể nghiệm sự chân tu thực học vào trong sinh hoạt thực tế; hoàn toàn không vọng tưởng vào núi đóng cửa thất. Tôi từng đã chích máu chép kinh, cấm túc tịnh khẩu, quá ngọ không ăn, khổ hạnh làm việc, nhưng tôi đều xem chúng là quá trình rèn luyện thân tâm, hoàn toàn không chấp trước bất cứ việc gì trong đó. Tôi từng thăm viếng, học hỏi ở các danh lam cổ sát, trải qua luật, giáo, thiền, đối với việc tu trì chuyên môn của từng tông tôi nhận rằng có chỗ hay để thâm nhập một môn. Nhưng tôi vẫn chủ trương Phật giáo nhân gian, tám tông cùng hoằng dương; cho dù tôi chịu sự giáo dục vô tình vô lý, nhưng tôi về sau đối với đồ chúng của mình lại chọn lấy phương thức “từ – nghiêm cùng trọng”.

Từng có một vị cư sĩ tại gia hỏi thiền sư Trí Tạng:

- Có thiên đường, địa ngục hay không?

Thiền sư trả lời rằng:

- Có.

- Có Phật Bồ-tát hay không?

Thiền sư vẫn đáp: - Có.

Tóm lại, bất kể anh hỏi cái gì, thiền sư Trí Tạng đều đáp: “Có”.

Vị cư sĩ này nghe xong, nói:

- Lạ thật! Con đem vấn đề này hỏi thiền sư Kính Sơn, Ngài đều nói: “Không”.

Thiền sư Trí Tạng hỏi ông ta:

- Ông có vợ không?

Cư sĩ đáp:

- Có.

- Ông có con cái không?

Cư sĩ vẫn đáp: - Có.

- Thiền sư Kính Sơn có vợ không?

Cư sĩ lại đáp:

- Không có.

- Thiền sư Kính Sơn có con cái không?

Cư sĩ vẫn đáp: - Không có.

Thiền sư Trí Tạng nghiêm trang nói:

- Thiền sư Kính Sơn không có vợ con, do đó nói với ông “không”. Ta nói với ông “có”, vì cư sĩ có vợ con mà!

Công án giống như thế cũng phát sinh ngay với thiền sư Triệu châu, người ta hỏi Ngài: - Con chó có Phật tánh không? Ngài cũng lúc thì trả lời “không”, lúc thì đáp “có”. Đây là vì chân lý chỉ có một, có – không chỉ là hai mặt của chân lý, nhưng chân lý là do người mà khác, thiền sư nói có hoặc nói không, chỉ là theo từng mặt bất đồng mà thuyết minh chân lý có ở khắp nơi. Do đó, người thọ giáo cố nhiên phải nên như “hư không”, tiếp nhận tất cả, mới có thể tiếp thu học tập sự vật đã có. Người chỉ dạy, cũng cần phải giống như “hư không”, có đủ mọi hình tướng mới có thể đạt được hiệu quả của đồng sự nhiếp thọ.

Trong 50 năm hoằng pháp sinh nhai, tôi đã lội khắp các sự nghiệp Phật giáo: Giáo dục, văn hóa, từ thiện, cọng tu… tuy biết rõ chuyên làm một loại có thể giảm thiểu nhân lực, vật tư, nhưng tôi vẫn là nhiều hạng cùng làm. Tôi từng nhiều lần vùng thôn quê dân dã bố giáo, cũng thường đến thành thị đô hội hoằng pháp. Tôi chú trọng giáo dục thanh niên, thiếu niên, cũng vì phụ nữ, người già mở lớp dạy học. Tôi xếp đặt các loại hoạt động hiện đại, nhưng cũng chẳng bỏ lơ pháp hội truyền thống. Mặc dù để trù tính các thứ, ắt phải không từ rắc rối, động não không ngừng. Nhưng thật như kinh Lăng Nghiêm nói: “Quy nguyên vô nhị lộ, phương tiện hữu đa môn” – Về nguồn không hai đường phương tiện có nhiều cửa. Chúng sanh chẳng phải ở trong phương tiện nhiều cửa này mà được khải phát sao? Phật giáo cũng chẳng ở phương tiện nhiều cửa này mà phát triển sôi nổi sao?

Đến nay tôi vì tuổi đã cao, mang theo thân già bịnh mới giải phẫu, mỗi ngày đối mặt với hành trình đã sắp đặt đầy ắp, nhưng tôi chẳng thấy bên thân có người, có việc, do đó tôi có thể đồng thời giải quyết rất nhiều việc, cũng có thể đồng thời tụ tập người bất đồng, thuyết giảng đề tài bất đồng. Tôi chẳng thấy đến nơi này, đến nơi kia, do đó tôi có thể nằm gối mà ngủ, cũng có thể ngồi xe mà ngủ. Tôi có thể ở trên máy bay thuyết pháp, cũng có thể ở trong tàu lặn khai thị. Có người hỏi tôi:

- Có bí quyết nào mà có thể mặc tình tiêu dao như thế?

Tôi thường đem chuyện thiền sư Đạo Thọ kể cho mọi người, thuyết minh chỗ hay của lý “không” thuận theo tự nhiên, thực tiễn:

Chùa do thiền sư Đạo Thọ xây cất ở gần đạo quán của đạo sĩ. Các đạo sĩ vì thấy chùa ở bên cạnh chịu không nổi, do đó mỗi ngày đều tìm cách nhiễu loạn Tăng chúng. Lúc thì hô phong hoán vũ, sái đậu thành binh; lúc thì gió thổi điện xẹt, bóng ma chàng ràng. Quả nhiên không ít các Sa-di nhỏ tuổi sợ quá bỏ đi. Thiền sư Đạo Thọ chẳng hề sợ hãi, một mình ở đấy hơn mười năm. Cuối cùng pháp thuật của đạo sĩ đã dùng hết sạch, chỉ đành bỏ đạo quán, dời đi nơi khác.

Có người hỏi thiền sư Đạo Thọ:

- Bọn đạo sĩ pháp thuật cao cường, Ngài làm thế nào thắng được họ?

Thiền sư Đạo Thọ đáp:

- Tôi chẳng có pháp thuật gì, chỉ dùng một chữ “không” thắng họ thôi.

- “Không”, làm sao có thể thắng họ được chứ?

- Bọn họ có pháp thuật, “có” là có hạn, có cùng, có tận, có lượng, có bờ mé; còn tôi không pháp thuật, “không” là không giới hạn, không cùng, không tận, vô lượng, vô biên. Do đó cái “không” của tôi biến hóa, phải hơn cái “có” của bọn họ biến hóa.

Tại đây xin khuyên người đời: “Có” thì có được, có mất, “có” là cái có hạn, có ngại. Nhân đây tìm cái “có” chân thật, chẳng thể tìm trong cái “có” hư ảo. Nếu như anh có thể có tư tưởng “không”, dù cho gặp nguy nan bách hại, cũng chẳng có mất mát, ngược lại càng có thể hiển xuất chí khí lỗi lạc của anh. Đây có thể so với việc rút dao chém nước, không cách gì ngăn trở dòng sông trôi chảy. Nếu như anh có thể ôm giữ thái độ “không”, dù cho sinh hoạt ngay trong ngũ dục lục trần, cũng không bị ảnh hưởng, ngược lại càng có thể thể hội ra sự hàm chứa phong phú bên trong. Đây bèn như mặt gương không bụi, có thể rõ ràng ánh hiện vạn vật. Nhân vì chỉ có “không”, mới có thể “có” đấy!

HT Tinh Vân


Phật pháp giảng “Không” là phải “không” các chấp trước, “không” các hai bên, “không” các giả tướng, “không” các đối đãi, để lại cấp cho chúng ta một thế giới chân thật.

Lúc tôi mới xuất gia, vâng lệnh thầy là Thượng nhân Chí Khai đến Luật Học Viện Thê Hà học. Có một hôm, pháp sư Giác Dân là Giáo thọ Quốc văn viết lên bảng mười chữ: “Dĩ Bồ-đề vô pháp trực hiển Bát-nhã Luận”, bắt chúng tôi lấy đó làm đề bài viết văn. Lúc ấy tôi mới mười hai tuổi, từ khi đi học chưa hề nghe hiểu qua một câu kinh, mà mười chữ này lại giống như Thiên th��, khiến tôi mò chẳng nhằm bờ mé, chỉ đành đông sao tây chép, mơ mơ hồ hồ mà nộp bài. Cho đến về sau, tôi trải qua bao thế sự tang thương, lại nhiều lần giảng Tâm kinh và kinh Kim Cang, ngay khi nhớ lại đề mục năm xưa, mới bỗng dưng đại ngộ: “Bồ-đề vô pháp” là “không”, “trực hiển Bát-nhã” là “hữu”, đúng ý nghĩa của câu nói chính là “phải không, mới có thể có”.

Người trên thế gian thường thường đem “không” và “có” chia thành hai vật chẳng đồng, cho rằng cái “không” chẳng phải là “có”, cái “có” chẳng phải là “không”. Nhưng khi Phật giáo giải thích chân lý vũ trụ nhân sinh, nhận là “không” rồi, mới có thể “có”; chẳng không thì chẳng có. Ví như tách trà không mới có thể đựng nước, ví da không mới có thể bỏ tiền, nhà cửa không mới có thể có người ở, đất đai không mới có thể xây lầu, thậm chí lỗ mũi không mới có thể hô hấp, lỗ tai không mới có thể nghe tiếng, cái miệng không mới có thể nhai nuốt, bao tử, ruột không mới có thể chứa thức ăn, chẳng “không” làm sao “có” được chứ?

Không, sự thực là chân lý có tánh kiến thiết rất giàu có, chỉ vì rất nhiều người hiểu lầm ý nghĩa của “không”, thậm chí cho rằng trời cũng không, đất cũng không, thế gian cũng không, là một sự việc đáng sợ biết bao! Kỳ thực, “không”, nghe dường như là chẳng có gì cả, nhưng hư không chẳng phải là bao la vạn tượng, ưng có đều có đó sao? “Không”, nhìn dường như là không hình không tướng, nhưng hư không vào vuông thì vuông, vào tròn thì tròn, chẳng phải là có đủ công dụng đối đãi siêu việt, không chỗ nào chẳng có tướng đó sao?

“Không” của Phật giáo, là dùng để thuyết minh: Sum la vạn tượng đều là do nhiều thứ điều kiện họp lại mà thành, do đó chẳng những trong vũ trụ không có sự vật nào tồn tại độc lập, mà giữa đây kia đều có đủ quan hệ hỗ tương dựa vào nhau mà sống còn. Quan hệ, điều kiện nói ở đây, trong Phật giáo gọi là “nhân duyên”. “Trung Luận” của ngài Long Thọ nói:

Các pháp nhân duyên sanh

Tôi nói tức là không.

Lại nói: “Vì có nghĩa không, nên tất cả pháp được thành. Vì không có nghĩa không, nên tất cả pháp chẳng thành”. Do đây có thể thấy, Phật giáo giảng “không”, là muốn “không” các chấp trước, “không” các hai bên, “không” các giả tướng, “không” các đối đãi, để đem lại cho chúng ta một thế giới chân thật. Nhân đây, “không” chẳng những không có tánh phá hoại, mà lại là bản thể xây dựng vũ trụ nhân sinh. Kinh nói: “Nếu muốn biết được cảnh giới Phật, nên tịnh ý mình như hư không”. Chúng ta nếu như có thể triệt ngộ lý “không”, khiến tâm lượng của chính mình rộng lớn được như hư không, bèn có thể lý sự viên dung, sự sự vô ngại.

Đức Phật sau khi lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp cho mẹ suốt ba tháng, trở về nhân gian, đệ tử nghe tin này, tranh nhau nghinh đón, Tỳ-kheo ni Liên Hoa Sắc vận dụng thần thông, đến trước mặt đức Phật đầu tiên, cung kính lạy dưới chân Phật và nói:

- Đệ tử Liên Hoa Sắc là người đầu tiên tiếp đón Phật-đà.

Đức Phật lại nói:

- Người đầu tiên đến tiếp đón ta không phải ngươi, mà là Tu-bồ-đề đang ở trong hang núi tại thành Vương-xá ngồi yên quán không. Có thể thấy được chân lý “không” mới là người chân chính thấy Phật-đà.

Lại có lần, đức Phật trên hội Linh Sơn, cầm một hạt châu như ý đổi màu, hỏi Thiên vương bốn phương:

- Các ông nhìn xem hạt châu như ý này màu gì?

Thiên vương bốn phương xem xong, có người nói là màu xanh, có người nói là màu vàng, có người nói là màu đỏ, người thì nói là màu trắng, Phật-đà bèn thâu châu như ý lại, rồi xòe tay ra, hỏi bọn họ:

- Hạt châu ma-ni hiện ở trong tay ta đây màu gì?

Các Thiên vương không hiểu chỗ chỉ trong tâm Phật, không hẹn mà cùng trả lời:

- Bạch Thế Tôn! Trong tay Ngài hiện tại căn bản không có gì, có bảo châu như ý nào đâu?

Đức Phật bảo bốn Đại Thiên vương:

- Ta đem châu thế gian tầm thường cho các ông xem, các ông đều biết phân biệt màu của nó. Nhưng lúc bảo châu đích thực ở trước mắt các ông, các ông lại nhìn mà chẳng thấy, thật là điên đảo biết bao!

Đích xác, người đời điên đảo, chấp trước cái có huyễn ảo, mê mình theo vật, nhân đây, lúc có thu hoạch thì vui mừng hớn hở, lúc có mất mát thì buồn rầu khổ não, lúc mọi việc thuận lợi thì hưng phấn vô cùng, lúc gặp khó khăn thì thất vọng gục đầu, tâm tính của chính mình hoàn toàn bị ngoại cảnh dẫn dắt mà chẳng biết. Nếu như chúng ta có thể nhận biết tất cả sự vật thế gian đều là vô thường chẳng thật, dùng chân lý “không” để điều hòa và thống nhiếp quan niệm đối đãi này, như thế bất kể có cũng tốt, không cũng tốt; khổ cũng tốt, vui cũng tốt; khó cũng tốt, dễ cũng tốt; vinh cũng tốt, nhục cũng tốt, chốn chốn nơi nơi đều có thể làm đến “nên không chỗ trụ mà sanh tâm kia” như trong kinh Kim Cang nói, thì bèn có thể không đâu chẳng trụ, cuộc đời như thế không phải là rất giải thoát tự tại sao?

Nhớ lúc tôi vừa đến Đài Loan, trong mình không có một vật, nhưng tôi không thấy nghèo, cũng không thấy khổ. Vì được giáo dục trí tuệ “không” của mười năm ở tùng lâm khiến tôi cảm nhận một cá nhân không cần lấy vật chất dồi dào làm đầy đủ, thử nghĩ trong b��u trời, trăng sao nhấp nháy khả dĩ cho tôi tự do thưởng thức; trong công viên, cây cối bông hoa chen chúc khả dĩ cho tôi mặc tình ngắm nghía; ở phố chợ, đường sá khả dĩ mặc tôi bước đi; thiên nhiên, chim, thú, trùng, cá khả dĩ tùy ý tôi kết duyên. Tôi cảm nhận sâu xa sự giàu có của ba ngàn đại thiên thế giới, lại từ đáy lòng cảm tạ đức Phật vĩ đại, Ngài ngàn cay muôn đắng thể nghiệm ra lý “không”, để tôi có thể tuân theo, học tập, bắt chước, hưởng dụng. Do tôi có một trái tim “không” rỗng tiếp nạp tất cả, giờ giờ khắc khắc đều đem thái độ cảm ân, biết đủ ra phục vụ, dâng hiến. Kết quả vì chính mình mang đến rất nhiều cơ duyên. Do tôi dùng một trái tim “không” linh động tiếp đãi sự vật, nơi nơi chốn chốn đều đem pháp hỉ vô hạn đầy lòng ra hoằng pháp độ chúng, kết quả vì Phật giáo khai thác trời đất mới toanh. Tôi thể hội được chân đế “phải không mới có thể có”, thực tại là kho báu cuộc đời lấy hoài chẳng hết, dùng hoài không cạn.

Tôi đã hiểu ra chính mình đến thế gian, là “không không” mà đến. Sinh sống trên thế gian, là “không không” mà sống; nhân đây tôi đối với sở hữu trên thế gian, cũng hiểu là “không không” mà có. Năm 1947, tín đồ cúng dường tôi một biệt thự hoa viên tinh tế để dùng tiến tu. Tôi lấy tên là tinh xá Phổ Môn, đẹp thì đẹp, nhưng tôi không nhận làm sở hữu của mình. Nhân đây, tôi vào năm 1957, “không” bỏ cái phòng này rồi, ở phố Tam Trọng huyện Đài Bắc thành lập nơi phục vụ văn hóa Phật giáo, vì văn hóa Phật giáo mà nỗ lực, về sau nhân vì việc Phật sự hưng thịnh, không đủ sử dụng, dời đến bên cạnh Viên Hoàn đường Trung Chính phố Cao Hùng và phụ xây thêm một nhà Ấu Trĩ Viện. Ba năm sau, có xét việc bồi dưỡng Tăng tài mới là cơ sở căn bản của Phật giáo, tôi lại “không” bỏ phòng xá yên tĩnh và ấm cúng trên mảnh đất hoàng kim này đến Phật Quang Sơn hoang vu vắng vẻ. Theo lối này, đem “không” gian nhỏ đổi lấy “không” gian lớn. Như nay sự nghiệp Phật giáo được làm càng lúc càng lớn, đạo tràng Phật giáo xây dựng càng lúc càng nhiều, nhưng tôi chẳng thấy lớn, cũng chẳng thấy nhiều, thậm chí tôi chẳng thấy tự mình “có”, nhân vì tôi nhận ra rằng tất cả những cái này đều là sở “hữu” của đại chúng, tôi chẳng qua chỉ là một nhân duyên trong đó mà thôi.

Thường có người hỏi tôi:

- Phật Quang Sơn có nhiều kiến trúc to lớn như thế, thậm chí có viện chia ra hơn một trăm gian. Kinh phí to tát như thế từ đâu ra?

Tôi đều bảo họ:

- Là từ “không” mà ra.

Lấy ngay Phật Quang Sơn mà nói, nó vốn là một núi đất tre gai mọc đầy cỏ hoang lấp chân, không có người nào chịu khai khẩn, huống là nói chuyện ở, nhưng trải qua sự chai tay, chai chân của đại chúng, một phen nỗ lực rồi, chẳng phải là “trong không sanh diệu hữu” sao?

Phật Quang Sơn sở dĩ có thể từ núi hoang trở thành thánh địa, đúng như lý niệm mà lúc vừa mới khai sơn tôi đã đề xuất: “Lấy không làm có, lấy lui làm tiến, lấy không làm vui, lấy chúng làm mình”. Cũng như lúc khai quang ở Đại Phật Thành, tôi nói pháp: “Lấy nước suối Tây Lai, chọn đá cát Cao Bình, gộp sức người toàn cầu, xây dựng Đại Phật tối cao”. Chính nhân vì là các duyên hòa hợp, do đó là nghĩa “không” tạo thành; chính nhân vì tôi “không” không nghèo thiếu, do đó đông tay nên việc, góp gió thành bão. Như nay tại Phật Quang Sơn, có ba ngàn người sinh hoạt, ăn uống, tôi đã không có điền sản ông bà để lại, lại không kinh doanh buôn bán như thế tục, thậm chí cổ phiếu, bán trả góp tôi đều dốt đặc cán mai, tôi chỉ là có lòng cất chùa, an Tăng, lo cho người. Nhưng mà thật lạ lùng, bất kể tôi đến đâu, đồ chúng đều rất sợ tôi nói một câu:

- Tôi không muốn ở đây, tôi muốn đi!

Có thể thấy nhân sinh thế sự đúng như Tâm kinh nói, không chỗ được mà được mới là thật được. Từ sự vật có hình có tướng mà tìm lấy, dù cho chiếm hữu cũng chẳng phải thật có.

Trên xã hội, nhân vì người không hiểu rõ Phật pháp mà hiểu lầm nghĩa không, cố nhiên khó tránh khỏi, người đối với Phật pháp hiểu biết nửa vời mà chỉ lầm nghĩa không, cũng vẫn có nhiều người. Ví như có số người cho là tất cả đều không, vô thường huyễn hóa, chẳng nên chấp trước, do đó cái gì cũng chẳng còn; có số người hiểu được tất cả đều không, phải kịp xa lìa sớm, chẳng nên tham giữ, do đó chủ trương tự tu tự độ; thậm chí có số người khoe khoang thế trí biện thông, đem nghĩa “không” làm hoa tai mắt người. Kỳ thực, nếu như chấp trước vào cái không chấp trước, chẳng phải cũng là một loại chấp trước sao? Tham giữ sự thanh tịnh vô vi, cũng chẳng phải là một loại tham giữ sao? Không biết vờ ra vẻ biết, lại không phải là cách làm dối mình, dối người sao? Số người này đã không cách gì tương ưng với chân lý “không”, lại làm sao có thể “có” Phật pháp chân thật thọ dụng chứ?

Như đức Phật, xuân hạ thu đông đều mặc một y phấn tảo, cố nhiên thấy tự tại nhàn nhã, dù cho có khoác y đính vàng của vua ban, cũng không mảy may kiêu ngạo. Đã có thể trà thô cơm lạt qua ngày, cũng có thể dùng miếng ngon vật lạ; đã có thể ăn dưới gốc cây, gội sương dầm gió, cũng có thể an trụ lầu quỳnh điện ngọc; đã có thể chính mình ở riêng rừng núi, cũng có thể cùng ở chung với bốn chúng đệ tử; lúc được tôn sùng cúng dường trước sau như như chẳng động, lúc bị người hủy báng dèm pha cũng không hầm hầm nổi giận. Đức Phật đối với phú quý bần tiện, cùng thông được mất, thiện ác sạch nhơ, tốt xấu cao thấp, đã chẳng bận tâm cũng không trôi xuôi theo đời. Tùy cảnh ngộ mà an như thế này, đem tinh thần lý “không” vào sinh hoạt thực tế chính là “sự giàu có” lớn nhất của Phật giáo, cũng là di sản lớn nhất mà đức Phật để lại cho người sau.

Bồ-tát Đề-bà và những Cao tăng đại đức như đại sư Huệ Tư…, tuy nhiều lần bị người ác độc hại, thậm chí bị đặt vào chỗ chết, nhưng vẫn không giảm bi nguyện phá tà hiển chánh, hoằng pháp độ sanh, từ những trước tác của các ngài, chúng ta có thể biết được. Cái tinh thần “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi”, “nhẫn nhục vác nặng, sanh tử nhất như” này, cũng đều là bắt nguồn từ sự tu hành lâu dài đạt được trí tuệ “không” của Bát-nhã.

Tôi từng đã bị đồng đạo chèn ép, cũng từng bị giáo đồ đạo khác phá hoại; tôi từng trải qua vô số lần gặp cản trở, cũng từng qua nhiều lần bị người vu cáo mà trở thành đối tượng của đơn vị điều tra an ninh, thậm chí nhân vì bị hiềm nghi làm gián điệp mà nếm mùi lao ngục. Tôi sở dĩ có thể không oán thù, không hối hận, không khuất phục, không nhiễu loạn, nhiều lần ngã xuống đứng lên, vượt hiểm như chơi, là nhân vì tinh thần vô ngã phụng hiến của cổ Thánh tiên Hiền, trước sau như ngọn đèn sáng trong bóng tối chiếu soi lên tôi, để tôi khởi lòng tin và dũng khí vượt bực. Tâm kinh nói: Nếu có thể “chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, là có thể “độ nhất thiết khổ ách”, thật chẳng phải lời hư dối.

Có một học Tăng hỏi thiền sư Duy Khoan:

- Đạo ở đâu?

Thiền sư Duy Khoan đáp:

- Chỉ ở trước mắt.

- Sao con không thấy?

- Vì ông có “ngã” do đó không thấy.

- Con còn “ngã” nên không thấy; như thế, Thiền sư thì sao? Ngài thấy rồi chăng?

Thiền sư đáp:

- Có “ngã”, có “nhân”, càng thấy chẳng được.

- Nếu như không “ngã”, không “nhân”, thấy được chăng?

- Không “ngã”, không “nhân” ai có thể thấy đạo chứ!

Chỗ nói: “mượn giả tu chân”, trên thế gian, tất cả mọi sự vật cố nhiên là huyễn hóa đều không, đối đãi nhau mà có. Nhưng chúng ta cũng phải ở trong nhân sự mình người duyên khởi tạm có này mà tu trì. Bằng không, làm sao thể chứng chân đế “chân không chẳng ngại diệu hữu, diệu hữu chẳng ngại chân không” được? Nhân đây, khi tham học ở tùng lâm trong mười năm, tôi tuy lấy tham thiền đả tọa, lễ Phật, niệm Phật làm công khóa của mình, cũng từng có cảnh giới hồn nhiên vong ngã, mất cả thân tâm, nhưng tôi chỉ đem tôn giáo quý báu này thể nghiệm sự chân tu thực học vào trong sinh hoạt thực tế; hoàn toàn không vọng tưởng vào núi đóng cửa thất. Tôi từng đã chích máu chép kinh, cấm túc tịnh khẩu, quá ngọ không ăn, khổ hạnh làm việc, nhưng tôi đều xem chúng là quá trình rèn luyện thân tâm, hoàn toàn không chấp trước bất cứ việc gì trong đó. Tôi từng thăm viếng, học hỏi ở các danh lam cổ sát, trải qua luật, giáo, thiền, đối với việc tu trì chuyên môn của từng tông tôi nhận rằng có chỗ hay để thâm nhập một môn. Nhưng tôi vẫn chủ trương Phật giáo nhân gian, tám tông cùng hoằng dương; cho dù tôi chịu sự giáo dục vô tình vô lý, nhưng tôi về sau đối với đồ chúng của mình lại chọn lấy phương thức “từ – nghiêm cùng trọng”.

Từng có một vị cư sĩ tại gia hỏi thiền sư Trí Tạng:

- Có thiên đường, địa ngục hay không?

Thiền sư trả lời rằng:

- Có.

- Có Phật Bồ-tát hay không?

Thiền sư vẫn đáp: - Có.

Tóm lại, bất kể anh hỏi cái gì, thiền sư Trí Tạng đều đáp: “Có”.

Vị cư sĩ này nghe xong, nói:

- Lạ thật! Con đem vấn đề này hỏi thiền sư Kính Sơn, Ngài đều nói: “Không”.

Thiền sư Trí Tạng hỏi ông ta:

- Ông có vợ không?

Cư sĩ đáp:

- Có.

- Ông có con cái không?

Cư sĩ vẫn đáp: - Có.

- Thiền sư Kính Sơn có vợ không?

Cư sĩ lại đáp:

- Không có.

- Thiền sư Kính Sơn có con cái không?

Cư sĩ vẫn đáp: - Không có.

Thiền sư Trí Tạng nghiêm trang nói:

- Thiền sư Kính Sơn không có vợ con, do đó nói với ông “không”. Ta nói với ông “có”, vì cư sĩ có vợ con mà!

Công án giống như thế cũng phát sinh ngay với thiền sư Triệu châu, người ta hỏi Ngài: - Con chó có Phật tánh không? Ngài cũng lúc thì trả lời “không”, lúc thì đáp “có”. Đây là vì chân lý chỉ có một, có – không chỉ là hai mặt của chân lý, nhưng chân lý là do người mà khác, thiền sư nói có hoặc nói không, chỉ là theo từng mặt bất đồng mà thuyết minh chân lý có ở khắp nơi. Do đó, người thọ giáo cố nhiên phải nên như “hư không”, tiếp nhận tất cả, mới có thể tiếp thu học tập sự vật đã có. Người chỉ dạy, cũng cần phải giống như “hư không”, có đủ mọi hình tướng mới có thể đạt được hiệu quả của đồng sự nhiếp thọ.

Trong 50 năm hoằng pháp sinh nhai, tôi đã lội khắp các sự nghiệp Phật giáo: Giáo dục, văn hóa, từ thiện, cọng tu… tuy biết rõ chuyên làm một loại có thể giảm thiểu nhân lực, vật tư, nhưng tôi vẫn là nhiều hạng cùng làm. Tôi từng nhiều lần vùng thôn quê dân dã bố giáo, cũng thường đến thành thị đô hội hoằng pháp. Tôi chú trọng giáo dục thanh niên, thiếu niên, cũng vì phụ nữ, người già mở lớp dạy học. Tôi xếp đặt các loại hoạt động hiện đại, nhưng cũng chẳng bỏ lơ pháp hội truyền thống. Mặc dù để trù tính các thứ, ắt phải không từ rắc rối, động não không ngừng. Nhưng thật như kinh Lăng Nghiêm nói: “Quy nguyên vô nhị lộ, phương tiện hữu đa môn” – Về nguồn không hai đường phương tiện có nhiều cửa. Chúng sanh chẳng phải ở trong phương tiện nhiều cửa này mà được khải phát sao? Phật giáo cũng chẳng ở phương tiện nhiều cửa này mà phát triển sôi nổi sao?

Đến nay tôi vì tuổi đã cao, mang theo thân già bịnh mới giải phẫu, mỗi ngày đối mặt với hành trình đã sắp đặt đầy ắp, nhưng tôi chẳng thấy bên thân có người, có việc, do đó tôi có thể đồng thời giải quyết rất nhiều việc, cũng có thể đồng thời tụ tập người bất đồng, thuyết giảng đề tài bất đồng. Tôi chẳng thấy đến nơi này, đến nơi kia, do đó tôi có thể nằm gối mà ngủ, cũng có thể ngồi xe mà ngủ. Tôi có thể ở trên máy bay thuyết pháp, cũng có thể ở trong tàu lặn khai thị. Có người hỏi tôi:

- Có bí quyết nào mà có thể mặc tình tiêu dao như thế?

Tôi thường đem chuyện thiền sư Đạo Thọ kể cho mọi người, thuyết minh chỗ hay của lý “không” thuận theo tự nhiên, thực tiễn:

Chùa do thiền sư Đạo Thọ xây cất ở gần đạo quán của đạo sĩ. Các đạo sĩ vì thấy chùa ở bên cạnh chịu không nổi, do đó mỗi ngày đều tìm cách nhiễu loạn Tăng chúng. Lúc thì hô phong hoán vũ, sái đậu thành binh; lúc thì gió thổi điện xẹt, bóng ma chàng ràng. Quả nhiên không ít các Sa-di nhỏ tuổi sợ quá bỏ đi. Thiền sư Đạo Thọ chẳng hề sợ hãi, một mình ở đấy hơn mười năm. Cuối cùng pháp thuật của đạo sĩ đã dùng hết sạch, chỉ đành bỏ đạo quán, dời đi nơi khác.

Có người hỏi thiền sư Đạo Thọ:

- Bọn đạo sĩ pháp thuật cao cường, Ngài làm thế nào thắng được họ?

Thiền sư Đạo Thọ đáp:

- Tôi chẳng có pháp thuật gì, chỉ dùng một chữ “không” thắng họ thôi.

- “Không”, làm sao có thể thắng họ được chứ?

- Bọn họ có pháp thuật, “có” là có hạn, có cùng, có tận, có lượng, có bờ mé; còn tôi không pháp thuật, “không” là không giới hạn, không cùng, không tận, vô lượng, vô biên. Do đó cái “không” của tôi biến hóa, phải hơn cái “có” của bọn họ biến hóa.

Tại đây xin khuyên người đời: “Có” thì có được, có mất, “có” là cái có hạn, có ngại. Nhân đây tìm cái “có” chân thật, chẳng thể tìm trong cái “có” hư ảo. Nếu như anh có thể có tư tưởng “không”, dù cho gặp nguy nan bách hại, cũng chẳng có mất mát, ngược lại càng có thể hiển xuất chí khí lỗi lạc của anh. Đây có thể so với việc rút dao chém nước, không cách gì ngăn trở dòng sông trôi chảy. Nếu như anh có thể ôm giữ thái độ “không”, dù cho sinh hoạt ngay trong ngũ dục lục trần, cũng không bị ảnh hưởng, ngược lại càng có thể thể hội ra sự hàm chứa phong phú bên trong. Đây bèn như mặt gương không bụi, có thể rõ ràng ánh hiện vạn vật. Nhân vì chỉ có “không”, mới có thể “có” đấy!



Có phản hồi đến “11. Phải “Không” Mới Có Thể “Có””

Câu hỏi ngẫu nhiên:    =  (Nhập số)  

Tags

Những bài viết nên xem:

 
 
 

Trang nhà không giữ bản quyền. Mọi hình thức sao chép đều được hoan nghênh.

Thư từ, bài vở đóng góp xin gửi về email:linhsonphatgiaocom@gmail.com